Những Bài Sáng-tác Năm Kỷ-mão (1939) - Phần 5

28 Tháng Sáu 200212:00 SA(Xem: 34420)
Những Bài Sáng-tác Năm Kỷ-mão (1939) - Phần 5

BÁT NHẪN

Nhẫn năng xử thế thị nhơn hiền,
Nhẫn giái kỳ tâm thận thủ tiên.
Nhẫn giả hương lân hòa ý hỉ,
Nhẫn hòa phu phụ thuận tình duyên.
Nhẫn tâm nhựt nhựt thường an lạc,
Nhẫn tánh niên niên đắc bảo truyền.
Nhẫn đức bình an tiêu vạn sự,
Nhẫn thành phú quới vĩnh miên miên.

H.H. năm Kỷ-Mão

Cho Ông HƯƠNG-CHỦ BÓ ở Hòa-Hảo

Tâm hành từ thiện vị an nhiên,
Phổ hóa hiền nhơn kiến Phật tiền.
Huỳnh long lộ vĩ năng kỳ diệu,
Xuất thế điều đình chửa hiệu Tiên.
Danh-Sơn khai bút dìu sanh-chúng,
Trung-Trực phò nguy đãi lịnh thiên.
Tạo xác phù vân khai nhứt điểm,
Qui hồi tự lập diệt tiền khiện.

Kỷ-Mão hạ san mượn xác trần,
Cảm tình đồng loại lão khuyên dân.
Thậm-thâm đây đó niềm liên ái,
Hợp-tác cùng nhau nối bút thần.

Vi lộ thiên oai bảo giác dân,
Ngọc nam ẩn-sĩ dị-thường nhân.
Sơn giang thủ lĩnh thừa tiên định,
Tứ hải hòa giai tất hữu phân.

Muốn thấy người xưa phải vẹn mày,
Nam-nhân hữu chí kiến Bồng-lai.
Nhìn xem hiệu lão trong thơ ấy,
Tứ cú nho gia đã cạn bày.

H.H. lối tháng 9 năm Kỷ-Mão

SAY

Say mùi tục lụy vẫn lao-đao,
Say nỗi kẻ ngu rất hỗn-hào.
Say thấm đạo lành ban vạn vật,
Say đời chưa rõ chuyện vàng thau.

Say ngọc bồ-đề đức hạnh cao,
Say dân ngu muộn tưởng điên nào.
Say chừng nó biết ta Tiên-trưởng,
Say chén quỳnh-tương chốn núi cao.

Say thời vận bĩ vẫn còn xa,
Say chuyện trần gian lắm cáo-xà.
Say lấy gậy thiền toan dẹp hết,
Say chờ Thiên-lịnh phán cho ta.

Say đạo huyền-vi nước tịnh-dương,
Say câu Bồ-Tát rưới cho thường.
Say mê Tiên-cảnh ôi thanh-nhã,
Say việc trần-gian lám họa-ương.

Say-sưa chuyện chổ nhắc chừng đời,
Say nói với trần việc tả-tơi.
Say biểu tri tâm đừng vội-vã,
Say buồn lũ chó sủa mùi dơi.

Say của Thần-Tiên rứt cuộc đời,
Say câu diệu lý hỡi người ơi!
Say như Lưu-Khánh ai thèm chịu,
Say thể Trần-Đoàn mới thảnh thơi.

Say mãi say hoài say vẫn say,
Say cho bá-tánh tập xong bài.
Say như Nhơn-Quí thì mang họa,
Say của lão Khùng ách nạn bay.

Say cho tiêu hết giống con buôn,
Say của Thánh-Nhơn xuất lập tuồng.
Say tạo một nền qui vạn vật,
Say dìu trăm họ vượt mây truông (1)

Hòa-Hảo, lối tháng 9 năm Kỷ-Mão
(1) Ông Nguyễn Thanh-Tân có họa tám bài thơ trên đây, nhưng xin miễn in vào tập này.

Cho SUNG-BIỆN T ở Hòa-Hảo

Quan trường nhiều lũ sói tà,
Miệng là mãnh hổ ý là sài lang.
Vinh-quang đâu có vinh-quang,
Tâm còn ích-kỷ tánh còn hại dân,
Có thân chẳng liệu lấy thân,
Cười người điên dại sao gần Tiên bang.
Nực cười cho đứa võ-phu,
Đui mù chẳng sợ cứ mà gièm pha.
Sau nầy sẽ biết mặt ta,
Tiên, Thần cũng chịu quỉ tà cũng cam.
Dương-trần lắm nỗi đớn-đau,
Tu hành chẳng chịu, đạo mầu chẳng theo.
Cứ lo ngửa mặt cười reo,
Trước cười sau khóc khóc rồi lại than.
Than rằng: tà quỉ ác-gian,
Chẳng cho bá-tánh được toàn thây thi.
Mấy năm trí óc còn ghi,
Lời Thầy để lại có thì sai không.

Hòa Hảo, tháng 7 năm Kỷ-Mão

Thơ của "Ông BÁN CHIẾU"

Đại-Thánh là Phật Thích-Ca,
Người còn khinh-báng huống ta phàm trần.
Vàng thiệt lại nói vàng râm,
Lúc này vận thới đá mài cũng an.
Cơn buồn phải gượng làm càn,
Cuộc đời rổn-rổn Phật mà phải kiêng.
Trên đời ai tốt bằng sen,
Quan yêu dân chuộng rã bèn sạch trơn.
Bề ngoài coi thể cây sơn,
Xét trong mồi mọt ăn mà chẳng hay.
Mặt tiền xem lại tốt thay,
Hiện hậu ngó kỹ lạnh tanh không ngờ,
Mau mau ta hãy bắt bờ,
Đặng cho bá-tánh leo bờ nầy qua.
Có xạ nào phải bán xa,
Giấu trong chỗ kín cũng thơm đầy nhà.
Nam-mô sáu chữ Di-Đà,
Từ-bi tế-độ vậy mà chúng-sanh.
Xưa nay sáu chữ lạnh-tanh,
Kim-Sơn Phật ấy gián sanh đành-rành.
Ngưỡng cầu Thượng-Đẳng Đai Thần,
Phải ra trị nước bảo toàn lê dân.
Ở nhà tụng niệm đều xinh,
Lục châu bát loạn nỡ nào ngó ngang.
Bán lộ gian-hồ kính tặng Kim-Sơn Phật (1)

Năm Kỷ-Mão

(1) LỜI SOẠN GIẢ : Bài thơ nầy không phải của Đức Thầy, mà chính là của một Dị nhơn (đang đi bán chiếu ? ) viết và trao cho một người tín-đồ Hòa-Hảo tại Kiến-An (Chợ mới, thuộc tỉnh Long Xuyên) đem đến cho Đức Thầy. Theo lời người tín-đồ nầy nói lại thì trong lúc giữa đường, ông bán chiếu không có đem sẵn viết mực theo; thế mà chăng biết tại sao không đầy một phút, ông viết được một bức thơ tuồng chữ sắc-sảo, giống hình chữ nôm, mà không một nho sĩ nào đọc được. Liền đó, Đức Thầy đọc cho anh em có mặt trong lúc ấy nghe.

HÃY CHỜ THIÊN ĐỊNH

BỬU châu công luyện chốn non thần,
SƠN thủy môn giang bảo giác dân.
KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,
HƯƠNG nogn dành thưởng kẻ tròn ân.

Từ-bi hai chữ sắc nâu sồng,
Gắng chí dạy đời chẳng tiếc công.
Vận bĩ xa chờ câu thạnh-thới,
Buồn ai châm-chích chữ cay nồng.

Hòa Hảo năm Kỷ-Mão

Hỏi HỘI LONG-HOA

Long-Hoa hội ấy còn xa,
Rán mà tu niệm đặng nhờ thân sau.
Phải chi hội ấy hầu gần,
Thi Ông hà tất xuống trần làm chi ? (1)

H.H. cuối năm Kỷ-Mão

(1) Có một bà già 80 tuổi xin Đức Thầy cho biết coi bà có thể sồng để coi hội Long-Hoa chăng ? Đức Thầy bèn đáp lại bằng mấy câu trên đây.

KHUYÊN BỚT CHO VAY

Một cuộc phù vân có mấy hơi,
Cầu xin bá-tánh nhậm đôi lời.
Cho vay mắt-mỏ từ nay bớt,
Có hỏi nới tay để giúp đời.
Nạn khổ đâu đâu đều túng rối,
Tai ương chốn chốn khắp cùng nơi.
Tiền ma gạo quỉ đừng nên trữ,
Sau cũng tiêu theo luật của trời.

H.H. năm Kỷ-Mão

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn