3.- DIỆU PHÁP QUANG MINH

02 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 32693)

(Khùng Điên Tự Cảm Tác)

 

(Xuất Xứ - Tiêu Đề - Tác Phẩm và Tác Giả)

 

XUẤT XỨ

          Bài giảng nầy trích lược trong Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ. Nguyên do vào ngày mùng 10 tháng Tư năm Canh Thìn (1940), cùng một lúc với bài “Tạm Ngưng Lý Lẽ”. Đức Giáo Chủ PGHH sáng tác bài Diệu Pháp Quang Minh.

          Bài giảng nầy chính tay Ngài cảm hứng mà viết và đề tựa. Đức Giáo Chủ dùng bút hiệu rất khiêm nhượng, thay vì phải xưng danh như thế nầy thế nọ; đằng nầy Ngài lại dùng bút hiệu là của ông Khùng và ông Điên cảm hứng, chớ sự thực là Ngài dùng trí huệ và giáo pháp cao siêu mầu diệu để giác tỉnh người đời. Do đó, bài giảng được mang ý nghĩa: Ánh Sáng của Trí Tuệ (Diệu Pháp Quang Minh).

VĂN THỂ

          Đây là một bài vận văn (văn vần), thể thơ Thất ngôn trường thiên, loại khuyến tu và thuyết giáo, dài 244 câu.

          Khởi đầu bằng câu: “Gươm trí huệ từ bi chớp nhoáng” và chấm dứt bởi câu: “Thôi giã thế ước mong đời thạnh”.

CHỦ ĐÍCH

          Đức Thầy cho biết Ngài có sứ mạng vâng lịnh Đức Thế Tôn (Phật Thích Ca) khai Đạo cứu đời bằng đường hướng “Học Phật Tu Nhân” cho thích hợp với căn cơ và tập quán của chúng sanh thời hiện đại, rất dễ tu, dễ chứng đắc.

NỘI DUNG

          Ngài hướng dẫn theo phương cách tu không quá chú trọng ở hình tướng, chỉ mang sắc thái người cư sĩ tại gia: vừa Tu Nhân, vừa Học Phật và Tu Phật:

          -Về Tu Nhân là vẹn gìn trung hiếu tiết nghĩa, đền đáp Tứ đại Trọng ân để hoàn thành phận sự của một con người trong Đạo làm người.

          -Học Phật và Tu Phật là trì hành đúng theo chánh pháp vô vi của Đức Phật Thích Ca khi xưa đã truyền dạy:                 “Nội quang cảnh tâm vô kỳ vật.

                     Đường đạo đức bước đi từ nấc,

                   Ngoại quang hình bất chấp kỳ hình”.

          Để ra khỏi sanh tử đến cõi vô sanh bất diệt:

                   “Tầm vô vi kiếm cảnh Niết Bàn”.

         

BỐ CỤC

          Đây là một bài giảng gồm đủ Văn chương và Đạo lý mà Đức Giáo cấu từ có lớp lang thứ tự hẳn hòi. Để cho môn đồ có đủ dữ kiện xây dựng tòa lầu đài đạo pháp, chắc chắn như một kiến trúc sư chuẩn bị dự kiến cất một ngôi nhà đồ sộ. Chúng ta có thể tạm phân ra làm 3 phần chánh và 24 tiểu đoạn:

          1.-Phần I: Cũng là phần Khai đề: từ câu 1 đến câu 4.

          2.-Phần II: là phần Chánh đề, cũng gọi là Đoạn 2: từ câu 5 tới câu 12.

          Đoạn 3 : từ câu 13 tới câu 20.

          Đoạn 4 : từ câu 21 tới câu 28.

          Đoạn 5 : từ câu 29 tới câu 36.

          Đoạn 6 : từ câu 37 tới câu 44.

          Đoạn 7 : từ câu 45 tới câu 56.

          Đoạn 8 : từ câu 57 tới câu 64.

          Đoạn 9 : từ câu 65 tới câu 68.

          Đoạn 10:từ câu 69 tới câu 76.

          Đoạn 11:từ câu 77 tới câu 84.

          Đoạn 12:từ câu 85 tới câu 96.

          Đoạn 13:từ câu 97 tới câu 108.

          Đoạn 14:từ câu 109 tới câu 116.

          Đoạn 15:từ câu 117 tới câu 128.

          Đoạn 16:từ câu 129 tới câu 144.

          Đoạn 17:từ câu 145 tới câu 156.

          Đoạn 18:từ câu 157 tới câu 168.

          Đoạn 19:từ câu 169 tới câu 180.

          Đoạn 20:từ câu 181 tới câu 192.

          Đoạn 21:từ câu 193 tới câu 208.

          Đoạn 22:từ câu 209 tới câu 220.

          Đoạn 23:từ câu 221 tới câu 232.

          Đoạn 24:từ câu 233 tới câu 244.

          Đoạn thứ 24, cũng là phần Kết luận.

 

CHÁNH VĂN

·        1.-Gươm trí-huệ từ-bi chớp nhoáng,

·        Bóng quang-âm ngày tháng dập-dồn.

·        Ta thừa vưng sắc lịnh Thế-Tôn,

·        4.-Khắp hạ-giái truyền khai Đạo pháp.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 1 tới câu 4)

          Đoạn nầy có ý nói trí tuệ của Phật của Thầy sáng suốt vô cùng tận. Còn ngày giờ trong trời đất cũng xoay chuyển mau lẹ không dừng. Hiện nay Đức Thầy vì vâng sắc lịnh của Đức Thế Tôn lâm phàm chuyển khai nền Đạo pháp, cứu độ chúng sanh.

 

CHÚ THÍCH

          TRÍ HUỆ: Cũng gọi là trí tuệ. Phạn ngữ đọc là Pharjna, có nghĩa là sáng suốt thông đạt cả sự lẫn lý. Sở dĩ ví trí huệ như lưỡi gươm là vì nó có tánh cách sắc bén, chặt đứt cội phiền não (tham, sân, si):

                   “Trí huệ dứt xong rồi quả báo,

                   Lo gì cửa Phật chẳng chen vào”.

          TỪ BI: Hai trong bốn Đại đức của chư Phật. Có nghĩa hiền lành thương xót. Trí huệ từ bi là trí sáng suốt của Đức Phật:

                   “Tiếng kệ từ bi quá diệu trầm,

                   Diệt lòng tham vọng diệt thinh âm”.

          CHỚP NHOÁNG: Ánh sáng chớp lên ánh lửa sáng rực như luồng điện một cách mau lẹ. Vượt nhanh hơn ánh sáng của lửa thường:

               “Luồng thanh điển nhoáng qua như chớp.

                 Chuyển căn tiền nhắc lớp người xưa”.

          BÓNG QUANG ÂM: Bóng sáng và tối. Ý chỉ cho ngày và đêm.

          DẬP DỒN: Ngày và đêm rất mau lẹ. Ý chỉ ngày giờ, năm tháng qua rất mau lẹ. Cứ dồn dập tới tấp, hết ngày này sang qua ngày khác.

          THẾ TÔN: Một trong 10 danh hiệu của Phật. Có nghĩa cả thế gian đều tôn kính cúng dường Ngài là Phật:

“Ngài là vua Pháp tột cao,

Khắp trong ba cõi chẳng sao sánh tày.

Tiên, người đồng kính đạo Thầy,

Cha lành hết cả bốn loài chúng sanh”.

          HẠ GIÁI: Cũng gọi là hạ giới, tức là cảnh giới chúng sanh đang sống.

 

CHÁNH VĂN

·        5.-Tùy phong-hóa dân-sanh phù-hạp,

·        Chấp bút thần tả ít bổn kinh.

·        Bởi luật trời mở rộng thinh-thinh,

·        8.-Tri phong-võ bất kỳ chuyển kiếp.

·        Giống Hồng-Lạc kim-chi ngọc-diệp,

·        Nay đổi dời nhiều sự thấp hèn.

·        Từ ngàn xưa Phật-pháp gài then,

·        12.-Nên ít kẻ tu-hành đắc Đạo.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 5 tới câu 12)

          Đức Thầy tùy theo phong tục và sự giáo hóa của nhân sanh hiện tại mà Ngài viết ra Kinh Giảng cho phù hợp với trình độ mỗi địa phương dễ thiệt hành và dễ chứng đắc.

          Dân tộc Việt Nam xưa kia rất hiền lương tốt đẹp như cành vàng lá ngọc. Nhưng vì thời nay đổi lại thấp hèn nhơ xấu.

          Kể từ sau ngày Đức Lục Tổ Huệ Năng bặt truyền y bát tới nay, ấy gọi là Pháp môn bế mạt, cửa Đạo càng gần như bị đóng cửa. Người tu phần đông chạy theo âm thanh sắc tướng, nên rất ít kẻ tu hành đúng chơn lý và chứng đắc.

CHÚ THÍCH

          PHONG HÓA DÂN SANH: Phong tục và sự giáo hóa nhân sanh bị ảnh hưởng theo thời đại.

          BÚT THẦN: Tiếng của Đức Giáo Chủ nói ra như có thần hóa vì nó xoay chuyển được cuộc diện hay tâm hồn con người, từ xấu ra tốt, từ thấp hèn trở nên đúng đắn, như Ngài đã viết:

                   “Huơi bút thần dẹp lũ cáo xà,

                     Loài độc địa toan trừ dứt nọc”.

          Hoặc là:

                   “Miệng nhích môi đầy văn tao nhã,

                     Hạ bút thần thơ đã đề khai”.

          TẢ ÍT BỔN KINH: Sáng tác ra một số Kinh Giảng để giáo hóa chúng sanh.

          LUẬT TRỜI MỞ RỘNG: Luật trời đất cũng như luật nhân quả, tuy thấy mênh mông, nhưng chẳng lọt một mảy lông nào cả:

                   “Luật nhân quả thật là cao viễn,

                     Suốt cổ kim chẳng lọt một ai”.

          PHONG VÕ: Mưa và gió. Ý chỉ thời tiết vận chuyển trong trời đất xoay đảo không ngừng.

          GIỐNG HỒNG LẠC: Họ Hồng Bàng và vua Lạc Long Quân…Đây chỉ cho dân tộc ta lúc Thượng cổ thời đại.

          KIM CHI NGỌC DIỆP: Cành vàng lá ngọc. Ý chỉ dân tộc ta khi xưa sự ăn ở và nếp sống rất đạo đức tốt đẹp, quí báu như cành vàng lá ngọc.

          TỪ NGÀN XƯA: Thời gian từ một ngàn năm về trước, thời Đức Lục Tổ Huệ Năng bặt truyền y bát, tức là y bát không còn trao truyền tiếp nối nữa, như cái nhà bị đóng cửa. Do đó mà người tu hành ít khi được đắc đạo.

 

CHÁNH VĂN

·        13.-Ta cũng tỏ đôi lời khờ khạo,

·        Ngắm cảnh đời tâm não bắt cuồng.

·        Hiệu Điên Khùng ban rải dư muôn,

·        16.-Khùng đạo-đức Khùng câu tuyệt-diệu.

·        Khùng đoán biết âm-dương kết-liễu,

·        Khùng huyền-cơ Khùng Đạo Thích-Ca.

·        Huơi bút thần dẹp lũ cáo-xà,

·        20.-Lòai độc-địa toan trừ dứt nọc.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 13 tới câu 20)

          Đức Thầy luôn nói những lời khiêm nhượng, lúc nào cũng tỏ ra mình là người khờ khạo ngu dốt để tìm phương tiện giác tỉnh quần sanh. Bởi tâm trí Ngài quá thương xót chúng sanh nên luôn lo lắng cứu độ.

          Tuy hình tướng bên ngoài giả dạng Điên Khùng, song lời ý Pháp của Ngài thốt ra toàn những lời cao sâu mầu diệu. Bởi Ngài đã thông đạt sự vận chuyển và sự liên kết của cơ tạo hóa tới đây sẽ ra sao và giáo pháp mầu diệu của Đức Phật mà nhà tu thành đạt như thế nào.

          Ngài cũng có bổn phận dẹp trừ tận gốc những loài ác hung phiền não bằng ngọn bút thần của Ngài để đưa chúng sanh sang bờ giác.

 

CHÚ THÍCH

          TÂM NÃO BẮT CUỒNG: Trí óc muốn điên lên hay tâm trí bấn loạn. Nhưng chữ cuồng ở đây là do chữ cuồng sĩ tức là một người rất thông minh đang say sưa với lời lẽ văn chương đạo đức mà giả dạng Điên Khùng chớ chẳng phải là Khùng Điên thật.

          DƯ MUÔN: Hơn một vạn, đây chỉ con số rất nhiều thật nhiều, đếm chẳng xiết.

          CÂU TUYỆT DIỆU: Tuyệt là hay hơn hết, các món ăn ngon hơn hết. Giáo pháp cao tuyệt hơn hết:

                  “Huyền Pháp thâm trầm thơm bất tuyệt,

                   Vô vi chánh Đạo hỡi người ôi !”

          KẾT LIỄU: Kết là nhiều thành phần liên hợp lại, như chữ đoàn kết. Chữ kết liễu ở đây có ý chỉ cho sự Đức Giáo Chủ đã biết rõ sự sắp đặt bộ máy âm dương của Trời đất.

          TOÁN BIẾT: Cũng gọi là đoán biết. Có nghĩa đoán biết công việc sắp xảy ra. Một từ ngữ trong Kinh Dịch. Như thời Tam Quốc có Khổng Minh, lúc còn ngồi trong thảo am ông đoán biết vận mạng của nước Tàu (Trung Quốc) trước và sau 100 năm. Còn tại Việt Nam ta có cụ Trạng Trình lúc ở tại am Bạch Vân cụ vẫn đoán biết sau 500 năm vận mạng nước phải như thế nào ? Và đến đó Cụ sẽ trở lại sắp đặt cuộc trị an cho đất nước:

“Ngày nay xe lết xe lôi,

Đúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.

Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê.

Chúng sanh thế giới ê hề thây phơi.

Trạng Trình truyền sấm mấy lời,

Ngày nay dân chúng vậy thời rán tri”.

          HUYỀN CƠ: Diệu huyền chơn lý và thiên cơ, gọi tắt là Thiên cơ Đạo lý. Đức Thầy từng nói: “Câu Đạo lý cơ huyền khó kiếm”, hoặc là : “Thiên cơ Đạo lý để lòng mới thôi”.

CHÁNH VĂN

·        21.-Noi tục cổ xác Khùng để tóc,

·        Phải đua chen tập tánh ông cha,

·        Mong dương-trần tỉnh giấc Nam-Kha,

·        24.-Trừ vật-dục trì chơn bất hoại.

·        Cặp mắt Thánh nhìn xem tứ hải,

·        Thương hồng-trần mượn xác tái-sanh.

·        Bởi vì đời văn-vật cạnh-tranh,

·        28.-Nên cấu-xé cùng nhau thảm-não.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 21 tới câu 28)

          Đức Thầy cho biết, vì Ngài muốn noi theo phong tục của ông cha từ xưa, nên khi mới ra đời khai Đạo xác thể Ngài có để tóc. Dụng ý là Ngài muốn khuyên dân chúng nên nhớ lại phong tục cổ truyền của nước Việt Nam ta chớ chẳng nên bắt chước theo nền văn minh của Âu Tây, để biểu dương tinh thần yêu nước của mình. Ngài còn khuyên môn đồ chẳng nên đam mê theo vật chất phù hoa, vì những thứ đó đều là ảo ảnh gạt lường, như giấc mộng Nam Kha vậy thôi. Hãy nên gìn giữ cái tâm chơn thật của chính mình mới bảo vệ được trường tồn vĩnh cửu.

          Đức Giáo Chủ còn nói: Từ nhiều tiền kiếp Ngài đã tu hành chứng Đạo, nay dùng cặp mắt Thánh nhìn khắp bốn biển, thấy chúng sanh sắp vương tai khổ, nên nay tái sanh lại để tùy phương cứu độ.

 

CHÚ THÍCH

          TỤC CỔ: Nếp sống và sự ăn ở đúng theo phong tục cổ truyền của nước ta. Từ xưa, dân Việt Nam thường hay búi tóc. Ý muốn nói theo phong tục cổ truyền, và không học đòi theo nền văn minh vật chất của ngoại lai.

          GIẤC NAM KHA: (Xem STTĐ trang 225, trong bài Tỉnh Bạn Trần Gian 2).

          TRỪ VẬT DỤC: Trừ lòng ham muốn vật chất: Danh, lợi, tình.

          TRÌ CHƠN: Gìn giữ cái tâm chơn thật. Vì cái tâm nầy còn hoài không hư hoại tan rã.

          CẶP MẮT THÁNH: Cặp mắt của chư Phật Thánh đã tu đuợc chứng đắc từ quả Tứ Thánh trở lên. Đây chỉ cho Thiên Nhãn Thông.

          TỨ HẢI: Bốn biển, chỉ cho khắp thế giới năm châu.

          TÁI SANH: Sống trở lại, hoặc chuyển kiếp lại. Nghĩa bóng là nói Đức Thầy vì có bản nguyện và sứ mạng nên chuyển kiếp trở lại độ chúng, như Ngài từng viết:              “Lòng yêu sanh chúng luân chuyển kiếp,

                 Dạ ái dương trần đổi xác thân”.

          VĂN VẬT: Văn minh và vật chất.

          THẢM NÃO: Đau đớn sầu khổ.

 

CHÁNH VĂN

·        29.-Sá chi kẻ ngu-si khinh-ngạo,

·        Vì trên đời nhiều hạng khác nhau.

·        Đấng trung-thần dạ ngọc ước-ao,

·        32.-Người bội-phản ghét-vơ đạo-lý.

·        Khùng cảm mến truyền câu hồi vị,

·        Thà làm hiền mà biết non-sông,

·        Điên như Ta Điên giống Tiên Rồng,

·        36.-Điên gỡ ách xích-xiềng thế tục.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 29 tới câu 36)

          Ở đời, có lắm kẻ quá mê si, hễ thấy ai có đạo đức thì khinh chê nhạo báng. Đức Giáo Chủ không màng kể, ấy vì họ không thấu hiểu đạo đức là gì !...

          Hơn nữa, người đời tâm trí tánh tình chẳng đồng nhau. Có người thì luôn trung thành với ông cha Thầy Tổ, có kẻ lại phản bội Đạo nhà Tổ quốc, chẳng ưa gì Thầy Tổ.

          Đức Thầy rất cảm mến những bậc trung thành ngay chánh, biết trở về con đường đạo đức hiền lành. Thà là làm lành mà biết tưởng nhớ đến non sông Tổ quốc, Đức Giáo Chủ tuy giả dạng Điên Khùng, nhưng lúc nào Ngài cũng yêu thương nòi giống để tùy phương cứu gỡ đất nước thoát khỏi vòng xiềng xích của dòng đời và thiện tín thoát ly cảnh khổ.

 

CHÚ THÍCH

          SÁ CHI: Chẳng kể chi, chẳng ngại gì chuyện đó.

          NGU SI: Ngu muội chẳng biết gì.

          KHINH NGẠO: Khinh chê nhạo báng.

          TRUNG THẦN: Người tôi dân có lòng trung cang nghĩa khí.

          DẠ NGỌC: Lòng dạ tốt đẹp đối với mọi người. Từ trong gia đình đến xã hội luôn có lòng đạo đức, đúng với lẽ phải, được người đời quí trọng như vàng ngọc.

          BỘI PHẢN: Người không trung thành với Tổ quốc, với dân tộc, với Thầy Tổ, bạn bè, ấy gọi là người hay phản phúc. Ví dụ: Trò phản Thầy, tớ phản chủ, tôi dân hay mãi quốc cầu vinh. Đức Thầy từng diễn tả cảnh trạng ấy:

                  “Gẫm nhiều người bội bạc thâm ân,

                   Nào kể chi là Đạo Quân Thần.

                   Tôi giết chúa, con đành sát phụ.

                   Lúc nguy cơ tớ mong hại chủ,

                   Trò giết Thầy tội ấy đáng không ?

                   Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng,

                   Niềm huynh đệ cùng nhau xâu xé.

                   Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ,

                   Giành của tiền cốt nhục giết nhau.

                   Tranh lợi danh giết lẫn đồng bào,

                   Tình nhân loại phân chia yểm bách”.

          HỒI VỊ: Trở lại con đường tốt đẹp hay ngôi vị cũ tốt đẹp của chính mình.

          ĐIÊN NHƯ TA ĐIÊN GIỐNG TIÊN RỒNG: Đức Thầy nhắc đến vua Lạc Long và bà Âu Cơ. Hai người sản sanh giống dân Việt Nam ta, nên gọi là giống dòng. Đây là lời Vua Lạc Long nói với bà Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, còn Bà là giống Tiên không thể ăn đời ở kiếp với nhau mãi được !” Nên bà dắt 50 người lên non tu hành, sau thành Tiên. Còn ông thì dắt 50 người xuống biển làm vua cai trị nước Nam ta (Văn Lang) được 18 đời gọi là vua Hùng Vương.

          Xưa nay, văn chương thường nhắc đến hai chữ Tiên Rồng hay Rồng Tiên thì ai cũng biết muốn nói đến Tổ Tiên của dân tộc Việt Nam.

          XÍCH XIỀNG THẾ TỤC: Người bị sợi dây trói trăn trong cõi phàm tục sanh tử luân hồi khó mà thoát ly ra được.

          Ở đây có ý nói tuy Đức Thầy xưng hiệu là Điên, nhưng lòng Ngài lúc nào cũng quyết đem người dân Việt ra khỏi vòng nô lệ của ngoại bang và toàn thể chúng sanh thoát khỏi vòng tử sanh (thế tục).

 

CHÁNH VĂN

·        37.-Chuông Linh-Khứu ba hồi giục-thúc,

·        Đờn Lôi-Âm khởi điệu êm tai.

·        Con lành duyên khá trở gót hài,

·        40.-Điên quyết chí dắt người lánh tục.

·        Đạo mở cửa bày câu minh-mục,

·        Nưóc ma-ha tưới tắt lòng phàm.

·                Cõi Trung-Uơng luân chuyển phương Nam,

·        44.-Mở hội Thánh chọn người trung-hiếu.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 37 tới câu 44)

          Đức Thầy cho biết Ngài đem nền giáo lý của Đức Phật Thích Ca từ chùa Lôi Âm và núi Linh Thứu ra giáo hóa chúng sanh. Ngài kêu gọi những ai có duyên lành với Phật Pháp, sớm quay về nẻo Đạo để sớm thoát ly cảnh tục.

          Ngài vạch rõ đường lối tu hành trước mắt mọi người và dùng nước Pháp Ma Ha tưới tắt lòng tham, sân, si thù hận của mỗi chúng sanh thoát khỏi vòng khổ đau sanh tử.

          Đức Thầy cũng nói rõ từ trước tới giờ, vị trí Trung Ương của Phật giáo phát xuất từ xứ Thiên Trước (Ấn Độ). Thời gian sau, sang qua Trung Hoa. Giờ đây đã luân chuyển qua miền Nam nước Việt, để qui hội các bậc hiền Thánh, xây dựng cuộc đời Thượng Nguơn Thánh Đức. Vậy chúng ta còn chờ việc chi nữa mà chẳng phát tâm tu thân hành Đạo.

CHÚ THÍCH

          LINH THỨU: Phạn ngữ GuHakata, phiên âm là Kỳ Xà Quật, dịch nghĩa có nhiều danh xưng: Linh Thứu Sơn, cũng gọi là Kê Túc Sơn. Ngọn núi ở gần thành Vương Xá, nước Ma Kiệt Đà, thuộc trung bộ xứ Ấn Độ.

          Đứng xa nhìn nó như con chim Khứu (kên kên) nên gọi là Khứu Lĩnh. Lúc Đức Phật Thích Ca còn trụ thế, Ngài thường cu hội đại chúng thuyết pháp. Có lần Ngài thuyết kinh Đại thừa “Diệu Pháp Liên Hoa” tại đây. Kinh sách xưa nay thường dùng Linh Thứu Sơn, để chỉ cho xứ Phật hay chỗ Phật ngự. Đức Thầy nay cũng từng bảo:          “Ta vì vưng sắc lịnh ngọc tòa,

                   Đền Linh Khứu sơn trung chịu mạng”.

                                                (Giác Mê TK, Q.4)

          LÔI ÂM: Đọc cho đủ là Lôi Âm Tự tức chùa Lôi Âm, hay đờn Lôi Âm. Đây chỉ cho tiếng giáo pháp của Phật thuyết ra rất thanh bai tao nhã, mầu diệu thâm trầm, người nghe dễ cảm như tiếng đờn. Đức Thầy có câu:

“Lôi Âm giục khởi tiếng đờn,

         Thất sơn dấy loạn là cơn hiểm nghèo”.(Thiên lý ca)

          Hoặc là:      

                   “Lôi Âm Tự đường đi chưa đến,

                     Nên giữa chừng kẻ mến người khinh”.

                                      (Xuân Hạ tác cuồng thơ)

          LÀNH DUYÊN: Cũng gọi là duyên lành. Ai có kết duyên lành với Phật pháp thì sớm muộn gì cũng phát tâm hành thiện và sau chứng thành Phật quả. Ví dụ: Người trước có phát tâm kính tin hay tôn trọng lời Phật dạy hoặc thi hành các điều Phật sự, như: Bố thí, giúp đời, thường thương xót vạn loại chúng sanh, tức đã có gieo sâu duyên lành với Phật thì sớm muộn gì hạt giống ấy cũng mọc lên và sẽ lần lượt sum sê nảy nở cho đến khi thành quả Bồ Đề.

          Xưa, có một nhà tu chỉ một thời gian ngắn mà được chúng quả. Các đệ tử bạch hỏi Phật về lý do.

          Phật trả lời: Hành giả nầy trước kia là một Cư sĩ, trước chỉ có lòng kính tin Trời Phật, thời sau nghe tiếng người niệm Phật niệm Kinh rồi niệm theo. Hôm nọ ông vào rừng đốn củi bị cọp rượt, ông liền vừa niệm Phật vừa leo lên cây. Cọp nghe rất kính nể rồi bỏ đi. Ông tiều được sống và lo tu hành tới nay và cũng nhờ nó mà nay ông được thành Phật.

          LÁNH TỤC: Lìa khỏi nơi phàm tục.

          MINH MỤC: Minh là sang sủa. Mục là trước mắt. Đức Thầy vạch con đường tu niệm cho mọi người thấy rõ trước mắt mà hành theo, khỏi bị lầm lạc.

          MA HA: Phiên âm của Phạn ngữ (Scr.) Dịch nghĩa là rộng lớn, sự rộng lớn ấy ví như hư không, không bờ bến. Nó vẫn rỗng không sáng tỏ, đồng với bản thể của đạo tâm. Cho nên nói đến Ma Ha, tức nói đến nguồn Đại Đạo. Tâm Kinh Bát Nhã của Phật có câu:

          “Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh”.

          (Lòng Trí tuệ rộng lớn ấy đến bờ bên kia; đọc tắt là Ma Ha Bát Nhã). Phật học giải có nhiều nghĩa, như:

          Ma Ha là Đại Đạo (rộng lớn).

          Ma Ha là nước pháp Tam Muội (chánh định) có diệu năng rửa sạch lòng trần cấu: “Nước Ma Ha tưới tắt lòng phàm”.

          Ma Ha là thoàn Bát Nhã đưa người qua khỏi bờ mê:

                    “Ma Ha thoàn nhã đã dọn rồi,

                   Lèo lái trương buồm chớ thả trôi”.

          Hoặc là:

Biển trần sóng cuộn lao xao,

        Xông thuyền Bát Nhả lướt vào một phen”.(Tự Thán)

          CÕI TRUNG ƯƠNG: Ngay chính giữa quả địa cầu. Xưa nay, hễ nơi nào có chư Phật Thánh ra đời thì nơi ấy trở thành Trung Ương Thánh Địa và an cư lạc nghiệp. như khi xưa, Phật Thích Ca xuất hiện thì tại xứ trung Ấn Độ trở thành Thánh Địa. Rồi đến thời Đức Đạt Ma Tổ Sư, Ngài thấy duyên Phật Pháp ở đây không còn thạnh hành nữa liền đến Trung Hoa. Bấy giờ tại xứ Trung Hoa trở thành là Trung Ương Thánh Địa. Trải qua sáu đời Tổ tương truyền đến đời nhà Trần, đạo Phật nước ta lại bắt đầu phát triển và chuyển biến sang tới thời kỳ Đức Phật Thầy Tây An và Bửu Sơn Kỳ Hương cho đến đời hiện tại là Đức Huỳnh Giáo Chủ và Phật Giáo Hòa Hảo. Bấy giờ trên quả địa cầu lại có thêm Châu Mỹ và các thức giả nhìn kỹ thì ai cũng thấy rõ nước Việt Nam nằm tại trung tâm điểm quả địa cầu. Như Đức Huỳnh Giáo Chủ đã xác định:

                   “Nước Nam Việt nhằm cõi Trung Ương,

                     Sau sẽ có Phật Tiên tại thế”.

          Hoặc là:

                   Luôn từ ngày Tăng Sĩ xa nhà,

                   Điều uất kết tâu qua cùng Thượng Đế.

                   Ngài vâng chỉ đáo lai trần thế,

                   Cõi Trung Ương nhằm đất nước Việt Nam.

                   Chọn một chàng tuổi trẻ tục phàm,

                   Mượn tay gã tờ hoa thần hạ bút”.

                                                (Trao lời cùng Ông Táo)

CHÁNH VĂN

·        45.-Tử vì nước còn ghi linh miếu,

·        Thác vì đời thanh-sử danh bia.

·        Mũ cánh chuồn, đai giáp, mang hia,

·        48.-Tuy thô-kịch mà tâm chánh-trực.

·        Nước văn-minh chê đồ ấy nực,

·        Mảng trau-tria xác thịt thanh-bai.

·        Cảnh dương-trần khó sánh Bồng-Lai,

·        52.-Về Tiên cảnh say mùi rượu Thánh.

·        Chén quỳnh-tương gác điều gai ngạnh,

·        Vui tinh-thần bày biện cuộc cờ.

·        Khi thừa-nhàn trổi giọng ngâm thơ,

·        56.-Bày thi phú than qua thời-thế.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 45 tới câu 56)

          -Đoạn giảng trên, Đức Thầy cho biết: Xưa nay những người chết vì nước non dân tộc, cứu nguy đồng bào Tổ quốc đều được sử sách ghi biên, miễu son thờ phượng. Và người xưa tuy cách ăn măc có hơi thô kịch, song lòng dạ rất ngay thẳng chánh chơn.

          -Ngược lại, các nước văn minh sống theo vật chất phù hoa, chê bai lối sống thời xưa ô dề chật nực, chỉ lo ăn diện cho trơn láng hở hang, bỏ hết lễ nghi phong tục của ông cha từ trước.

          -Đức Giáo Chủ còn cho biết nếp sống theo cảnh dương trần hiện tại, không sao bằng cảnh sống nơi Bồng Lai Tiên Cảnh, tức Ngài muốn chỉ đời Thượng nguơn Thánh đức sắp tới đây. Nơi ấy sẽ đầy đủ vật liệu của các Tiên gia:

“Bồ đào rượu Thánh trà Tiên,

Muôn năm cộng lạc chúa hiền tôi trung”.

          -Người sống trong cảnh nầy chẳng còn hơn thua, tranh chấp hay giành giựt gây gổ lẫn nhau, ngày đêm sống vui vẻ với văn chương thi phú.

 

CHÚ THÍCH

          TỬ VÌ NƯỚC, THÁC VÌ ĐỜI: Những người chết để bảo vệ Tổ quốc quê hương, đồng bào chủng loại, không lo riêng tư cho cá nhân mình.

          LINH MIẾU: Cái miễu hoặc đền thờ người ta xây cất để thờ phượng những bậc có công cứu nước giúp đời, mỗi địa phương thường có. Hằng năm cúng tế để cầu nguyện cho Quốc thới Dân an bá tánh an cư lạc nghiệp. Trong các cuộc lễ cúng tế trên người ta luôn đọc lại Tiểu sử và sử nghiệp của các Ngài để nhắc nhở dân chúng tưởng nhớ noi theo gương hạnh tốt đẹp đó. Đức Thầy có câu:                   “Trăm năm ghi tạc miễu son,

              Trung quân ái quốc hỡi còn danh bia”.

                                      (Viếng làng Phú An)

          THANH SỬ: Cũng gọi là sử xanh. Thời xưa, người ta chưa làm ra được các thứ giấy. Chỉ dùng cật tre xanh mà chép sử nên gọi là sử xanh hay thanh sử:

                    “Tiếng roi lại Bình Ngô sát Đát,

                 Sử xanh còn ngào ngạt hương thơm”.

                                                (Gọi Đoàn)

                   “Dỡ sử xanh Nam Việt mà coi,

              Gương Trưng Triệu còn roi muôn thuở”.

                                                (Gọi đoàn Phụ nữ)

          MŨ CÁNH CHUỒN: Cái mão các quan hồi xưa đội để đi làm việc, có hai cánh hai bên như con chuồn chuồn.

          ĐAI GIÁP: Các quan lính thời xưa khi đi đánh giặc có mang đai giáp bao thêm quanh mình để che thân. Họ mang cả giáp đồng giáp sắt và giáp thiết nữa (thiết giáp). Có khi tên bắn cũng không lủng.

          HIA: Như đôi giày, đôi bàn chơn có hai mỏ nhọn lên, các quan lớn vào chầu vua có mang vào.

          THÔ KỊCH: Ô dề kịch cợm, nhìn thiếu trang nhã.

          CHÁNH TRỰC: Ngay thẳng, lòng ngay thẳng trước sau như một. Đức Thầy có bảo:

               “Ngay thẳng hiếu trung trang hiền thảo,

                 Kim thời bá tánh gọi ngu si”.

          BỒNG LAI: (Xem chữ Bồng lai trong STTĐ trang 47). Chữ Bồng Lai ở đây còn chỉ cho cảnh đời Thượng nguơn Thánh đức tới đây:

                   “Bồng Lai tại thế non dường sánh…”

          RƯỢU THÁNH: Cũng gọi là rượu của Chư Tiên dùng, nấu bằng trái Bồ Đào, uống vào chẳng bị say như rượu thường ở cõi trần gian. Đức Huỳnh Giác Chủ từng bảo:                  “Bồ Đào rượu Thánh trà Tiên,

               Muôn năm cộng lạc chúa hiền tôi trung”.

          RƯỢU QUỲNH TƯƠNG: Nghĩa như chữ rượu Thánh. Rượu của chư Tiên dùng, uống vào sảng khoái, hết say, tan bịnh…sống trường sanh bất lão.

          THỪA NHÀN: Rảnh rang thong thả, chẳng có việc gì phải lo âu sầu khổ.

          TRỔI GIỌNG NGÂM THƠ: Cảnh của các chư Tiên ở, lúc nào cũng thảnh thơi nhàn hạ, ít có việc chi trói buộc bận rộn nên thường ngâm nga những lời thi phú. Thi phú của các Ngài thường là dùng lời lẽ thức thời, giác chúng, hoặc tiên tri những việc sắp xảy ra, như Trần Đoàn tiên ông ngâm thơ cho biết Triệu Khuông Dẫn sắp lên ngôi báu:

                  “Vận khí xoay vần lối hiệp tan,

                   Huỳnh bào đấp cật vững âu vàng.

                   Trần gian từ đấy đà vô sự,

                   Ta trở về ngôi mới ngủ an”.

          Và thơ của cụ Trạng Trình ở Việt Nam ta, lúc nhàn rỗi ở Am Bạch Vân (miền Bắc) ông có ngâm nga trên 500 bài thơ phú để giác đời và tiên tri trận thế chiến thứ hai bùng nổ mà bây giờ Đức Hùynh Giáo Chủ đã nhắc lại:

“Ngày nay xe lếch xe lôi,

Đúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.

Là năm rồng, rắn, ngựa, dê,

Chúng sanh thế giới ê hề thây phơi.

Trạng Trình truyền sấm mấy lời,

Ngày nay dân chúng vậy thì rán tri”.

          Sau nầy, đến giữa năm Kỷ Mão 1939 trước trận đệ nhị thế chiến, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã diễn tả lại:

“Mèo kêu bá tánh lao xao,

Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.

Con ngựa lại đá con dê,

Khắp trong trần hạ nhiều bề gian lao.

Khỉ kia cũng bị xáo xào,

Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng”.

 

CHÁNH VĂN

·        57.-Xuống dương-gian thân Điên nào nệ,

·        Chốn hồng-trần đuốc huệ liền khai.

·        Cho nam-nhi sửa mặt râu mày,

·        60.-Hàng phụ-nữ giồi câu trinh-liệt.

·        Rán bắt chước những trang tuấn-kiệt,

·        Gái anh-hùng xưa có Trưng-Vương.

·        Đuổi quân Tàu cứu vớt quê-hương, (²)

·        64.-Rửa xong hận thù chồng dốc trả.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 57 tới câu 64)

          Đoạn giảng vừa qua, Đức Giáo Chủ nói rõ: Ngài lâm phàm khai Đạo, dùng đuốc huệ cứu dân, dù thân Ngài có chịu gian lao cực khổ cũng chẳng nài hà, miễn làm sao cho hàng nam nhi nữ kiệt biết giác tỉnh tu hành.

          Nam thì rạng rỡ phận mày râu. Nữ thì vẹn tròn câu tứ đức, để rạng rỡ mặt mày cho non sông Tổ quốc, ấy là Ngài được an lòng.

          Ngài luôn luôn kêu gọi hàng thanh niên, nam nữ hãy bắt chước gương xưa, như hai bà Trưng nữ anh hùng vì muốn thể hiện tinh thần báo đáp nợ nước thù nhà. Nghĩa là vừa đền nợ nước vừa báo thù chồng mà phải hy sinh bảo vệ non sông Tổ quốc, đánh đuổi quân xâm lăng Tô Định ra khỏi bờ cõi, dành lại nền độc lập cho nước nhà. Hiện giờ sách sử còn ghi biên, miễu son tạc để.

 

CHÚ THÍCH

          RÂU MÀY: Cũng gọi là mày râu, nghĩa của chữ Nam nhi. Chỉ cho chí khí của phận mày râu nam tử.

          TRINH LIỆT: Trung trinh và tiết liệt chỉ cho giới nữ, không làm những việc hư thân mất nết.

          TUẤN KIỆT: Người tài giỏi và có tiết liệt hơn kẻ khác.

          ANH HÙNG: Cũng viết là hùng anh. Anh là vua các loài hoa; Hùng là vua các loài thú. Nghĩa bóng là những người tài giỏi có chí khí lớn hơn người. Đức Thầy có câu:      “Lúc giặc xâm lăng mưu thống trị,

                   Anh hùng đâu xá cảnh gian lao”.

          Hoặc là:

                    Nam Việt anh hùng đúc khí hào”.

          Và: “Khí thiêng liêng sông núi nhiệm mầu,

                   Un đúc giống anh hùng vang bốn bể”.

          TRƯNG VƯƠNG: Cũng gọi là Trưng Nữ Vương, tức là hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị. Hai bà là hai chị em ruột, con của quan Lạc Tướng, người ở làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Phúc Yên. Khi quân Tàu đô hộ nước ta thì họ dùng chánh sách khắc nghiệt đối với dân ta. Họ sai Tô Định giết ông Thi Sách là chồng bà Trưng Trắc.

          Vì muốn bảo vệ dân tộc trả thù chồng, đền nợ nước. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị liền đứng lên chiêu tập anh hùng khởi nghĩa đánh giết được Tô Định vào năm 40 trước Công Nguyên. Dân chúng tôn hai Bà lên ngôi, xưng là Trưng Nữ Vương. Hai bà làm vua được 3 năm. Sau vì binh ít thế cô nên bị thua Mã Viện ở Cẩm Khê, hai bà phải nhảy xuống Hát Giang mà tự sát vào ngày mùng 6 tháng 2 năm Quí Mão, hàng năm dân chúng đều có cúng tế hai Bà rất trọng thể, gương trung liệt của hai Bà còn xán lạn khắp năm châu.

 

CHÁNH VĂN

·        65.-Xưa Châu-Xáng thanh-long phải tá,

·        Ngăn Sư-Đồ đặng cứu Ngũ-Viên.

·        Nói cho đời rõ biết Khùng-Điên,

·        68.-Điên vận bĩ điên câu ái-quốc.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 65 tới câu 68)

          Bốn câu giảng trên, Đức Thầy nhắc lại thời Thập Bát phản Vương có Châu Xáng mượn Thanh long đao của Quan Công ngăn Thượng Sư Đồ để cứu Ngũ Viên Thiệu. Mặc dù Châu Xáng tài kém hơn Thượng Sư Đồ nhưng vì có lòng tốt muốn cứu người, thêm được sự gia hộ của các bậc Thần Thánh nên ngăn được giặc và cứu Ngũ Viên Thiệu thoát nạn.

 

CHÚ THÍCH

          CHÂU XÁNG: Người ở Trung Quốc, thời Thập bát phản vương. Lúc thất thời đang đốn củi dựa mé rừng, bỗng nghe tiếng quan binh la hét bèn leo cây cao nhìn xuống thấy Thượng Sư Đồ đang cỡi ngựa rượt theo Ngũ Viên Thiệu. Ông Viên Thiệu vừa đeo con vừa chống giặc sắp chết tới nơi, y bèn tuột xuống chạy vào miếu Quan Công gần đó lấy cây Thanh Long đao mà Châu Xương đang ôm phò Quan Công. Ông chạy ra đón đường Thượng Sư Đồ miệng hét vang như sấm nổ. Thượng Sư Đồ thấy bộ mặt của Châu Xáng có vằn vện giống hình sắc của Châu Xương, nên giựt mình, tưởng mạng Châu Xáng chưa chết nên có Châu Xương hiện hình về hỗ trợ. Sư Đồ liền ra lịnh lui binh, khiến Viên Thiệu được thoát chết.

          PHẢI TÁ: Phải mượn.

          VẬN BĨ: Vận xấu. Thời vận còn xấu chưa hanh thông tốt đẹp.

CHÁNH VĂN

·        69.-Viết một ngọn lưỡi nầy một tấc,

·        Đem Đạo lành ban rải nơi nơi.

·        Mảng chờ trông bá-tánh thảnh-thơi,

·        72.-Khắp bốn biển liên dây hòa-hảo.

·        Rừng bác-ái điên đời biến-ảo,

·        Điên như ta vì Đạo vì dân.

·        Điên tu cầu Quan thánh rải ân,

·        76.-Cho bốn biển dân lành được hưởng.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 69 tới câu 76)

          Đức Giáo Chủ dùng ngọn viết và một số lời lẽ đem nền Đạo bủa khắp bàng dân bá tánh. Ngài cũng mong đợi sẽ có một thời mà khắp bá tánh trong bốn biển năm châu đều được hưởng cảnh thái bình an lạc và mỗi người đối xử với nhau đều được hiếu hòa thuận thảo.

          Ngài còn cho biết lòng bác ái của Ngài thường lo cho khắp chúng sanh bao la vô bờ bến. Cuộc đời sắp tới đây sẽ biến đổi lạ lùng. Ngài giả Điên ở đây là vì quyết phổ biến đạo mầu để cứu khổ toàn dân và Ngài cũng thiết tha cầu nguyện với bậc Thánh chúa sớm bủa nhuần ân đức cho nhân loại khắp mười phương cùng thừa hưởng.

 

CHÚ THÍCH

          VIẾT MỘT NGỌN LƯỠI NẦY MỘT TẤC: Cây viết và một số lời ý. Nghĩa bóng là ám chỉ sự nghiệp văn chương và giáo lý.

          THẢNH THƠI: An nhàn thong thả.

          LIÊN DÂY HÒA HẢO: Giáo lý Phật Giáo Hòa Hảo được truyền bá khắp bàng dân bá tánh.

          VÌ ĐẠO VÌ DÂN: Vì Tổ quốc và Đạo pháp.

          QUÂN THÁNH: Bậc Thánh chúa hay Thánh Vương. Vị đã tu hành chứng quả Bồ Tát song vì bản nguyện mà chuyển kiếp trở lại độ đời. Đây chỉ cho Đức Minh Vương.

CHÁNH VĂN

·        77.-Điên dẹp gác âm-thinh sắc-tướng,

·        Tầm vô-vi kiếm cảnh Niết-Bàn.

·        Thuyền từ-bi thẳng cánh lướt sang,

·        80.-Qua Đông-độ vớt người hữu đức.

·        Bê ái-hà gươm linh sớm dứt,

·        Lòng bồ-đề sắt đá dám kình.

·        Cả tiếng kêu lớn nhỏ đệ-huynh,

·        84.-Noi chí ấy sửa sang thời-thế.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 77 tới câu 84)

          Tuy Đức Giáo Chủ giả vờ là người Điên, nhưng Ngài có nhiệm vụ dẹp bớt những âm thinh sắc tướng đã bị người ta bày đặt thêm cho đạo Phật, để dìu dắt mọi hành giả trở về với chánh pháp vô vi của Đức Phật từ trước; hầu tiện bề tiến tới Niết Bàn Cực Lạc.

          Ngài còn nói rõ từ trưóc Ngài đã an vị nơi tòa sen báu: “Tây Phương Cực lạc Khùng ngồi tòa sen”. Vì bản nguyện vị tha mà Ngài cỡi thuyền từ bi trở lại Đông Độ, tức cõi chúng ta đang sống để giác tỉnh những người hữu tâm chí đức. Cho nên Ngài khuyên khắp môn đồ hãy dùng gươm linh tức trí huệ siêu mầu chặt đứt lòng thương yêu luyến ái cõi trần và nuôi dưỡng hạt giống giác ngộ (Bồ Đề) để đạt đến chỗ bất sanh bất diệt.

 

CHÚ THÍCH

          ÂM THINH SẮC TƯỚNG: Âm thinh là những thứ trống mõ chuông đẩu, các thứ đờn kèn tụng tán ca hát v.v…Sắc là màu sắc xanh, đỏ, trắng, vàng và sắc người, hay làm cho người ta mê nhiễm, tức những hình thức đẹp xấu mập ốm, trơn láng mịn màng…Các loại nói trên là thinh trần hay sắc trần. Nhà tu nếu còn ô nhiễm một thứ nào cũng khó thành đạo. Bởi: “Sắc tướng thinh âm chư ngoại giáo, Chơn truyền cụ thất đạo nan thành”.

          Hoặc: “Nhược dĩ sắc kiến ngã,

                     Dĩ âm thinh cầu ngã.

                     Thị nhân hành tà đạo,

                     Bất năng kiến Như Lai”.

                   (Bằng dùng sắc mà ra mắt ta,

                    Lấy âm thinh mà cầu ta.

                    Thiệt là người hành tà đạo,

                     Không bao giờ thấy được Phật Tổ Như Lai).

          NIẾT BÀN: (Xem STTĐ trang 249, tập 1, cột 2).

          THUYỀN TỪ BI: Cũng gọi là thuyền Bát Nhã. Bởi từ bi và trí tuệ đồng nghĩa là Tâm và Trí của Phật. Sở dĩ ví món nầy như chiếc thuyền là vì nó có công năng đưa mình củng mọi người đồng sang bờ giác. Đức Thầy từng nói: “Thuyền Bát nhã Ta cầm tay lái”. Hoặc là:

                   “Khắp trong bá tánh đều lai tỉnh,

                  Bước xuống thuyền từ đến cửa không”.

          ĐÔNG ĐỘ: Là cõi Ta Bà chúng sanh đang sống, ở về hướng Đông (Đông Độ) đối với hướng Tây Tịnh Độ, tức cõi Cực Lạc của A Di Đà. Cũng gọi là Tây Thiên Trước. Đoạn nầy có ý nói Đức Giáo Chủ PGHH đã chứng Đạo và có ngôi vị ở Tây Phương: “Tây Phương Cực Lạc Khùng ngồi tòa sen”. Nay vì lòng từ bi và có sứ mạng nên trở qua Đông Độ tức là cõi Ta Bà để cứu vớt chúng sanh. Như Ngài đã xác định:

                    “Tây Phương trở gót quá xa đàng,

                    Thương xót Nam Kỳ lại An Giang”.

                                                (Lộ chút Cơ huyền)

          BỂ ÁI HÀ: Lòng thương yêu luyến ái dục tình như sông biển. Kinh xưa đã bảo:

“Bể ái hà là dây oan nghiệt,

Danh lợi tình càng xiết càng đau.

Muốn ra khỏi chốn đồ lao,

Dùng gươm trí huệ cắt mau lòng phàm”.

          Do đó, Đức Thầy khuyên chúng ta noi theo lòng giác ngộ của chư Phật mà vung gươm trí huệ chặt đứt lòng thương yêu luyến ái cõi trần để được giải thoát sanh tử như các Ngài.

CHÁNH VĂN

·        85.-Trời quá buổi chinh-chình vừa xế,

·        Chờ ít lâu cũng lặn về Tây.

·        Lúc huỳnh-hôn đèn trí soi đầy,

·        88.-Tìm nẻo thẳng đi về Cực-Lạc.

·        Điên đàm-luận ít câu dốt nát,

·        Mong chị anh bàn-bạc thể-nào ?

·        Lời văn thô ý-kiến chẳng cao,

·        92.-Nội quang-cảnh tâm vô kỳ vật.

·        Đường đạo-đức bước đi từ nấc,

·        Ngoại quan hình bất chấp kỳ hình.

·        Phải bền lòng chặt nẻo sắt đinh,

·        96.-Rán kiếm chữ bất sanh bất diệt.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 85 tới câu 96)

          Đoạn giảng vừa qua, Đức Thầy muốn cho biết cuộc xoay vòng của mặt trời, hễ qua chinh xế thì sớm muộn gì cũng lặn xuống thành đêm tối. Ở đây ý muốn nói ngày cùng cuối của thời Hạ nguơn mạt pháp thì có nhiều mối đạo ra đời, tà chánh, lộn lạo. Nhà tu hãy chọn lọc nơi nào sáng suốt chơn chánh mà nương theo kẻo bị lầm lạc. Nghĩa là Tôn Giáo nào vạch sẵn đường lối tiến thẳng về Cực lạc Niết bàn thì nên theo, bằng không thì nên xa lánh.

          -Đức Thầy cũng rất khiêm nhường: Lời lẽ của Ngài thốt ra rất quê dốt thật thà mong mọi người hãy xét kỹ lại coi sao ? Tuy lời văn rất thô kịch, không cao kiến lắm, song nếu ai chịu xét nét kỹ càng sẽ thấy rõ Ngài có dụng ý.

          Ngài đã chỉ thẳng vào chơn tâm của mỗi người lúc nào nó cũng rỗng thông sáng tỏ không dính mắc hay chứa đựng một vật nào, ở Thánh không thêm, ở phàm không bớt. Có thể tạm gọi nó là bản thể của Đạo tâm, hoặc là bản lai vô nhứt vật. Đối với mọi cảnh vật bên ngoài nó vẩn không chứa đựng và dính mắc cho đến lục căn, lục trần, lục thức cũng không làm sao cho nó lay động được, song nó có diệu năng hiểu biết một cách sang suốt rõ ràng.

          Vậy mỗi hành giả nào muốn thấu suốt đến chỗ kỳ diệu đó, tất phải tuần tự bước đi từ nấc một, mới mong kết quả Niết Bàn giải thoát.

 

CHÚ THÍCH

          TRỜI QUÁ BUỔI CHINH CHINH VỪA XẾ: Hồi xưa chưa có đồng hồ, người ta chỉ căn cứ vào bóng mặt trời mà biết giờ giấc làm việc. Ở đây như đã thấy mặt trời chinh xế thì thì biết trời sắp hết buổi chiều, một phần ba buổi nữa đây là mặt trời sắp lặn.

          HUỲNH HÔN: Trời sắp tối (chạng vạng).

          ĐÈN TRÍ: Đèn trí huệ. Chỉ cho chủ trương của mỗi giáo thuyết.

          NẺO THẲNG: Đường ngay chánh. Chỉ cho chánh đạo.

          CỰC LẠC: (Xem STTĐ).

          DỐT NÁT: Người ít học, ít hiểu biết văn chương chữ nghĩa. Đây là lời khiêm nhượng của Đức Thầy.

          Ý KIẾN CHẲNG CAO: Kiến thức còn cạn hẹp thấp thỏi, chẳng thông minh cho lắm, đây là lời khuyên khiêm hạ của Đức Thầy.

          NỘI QUANG CẢNH: Nội là trong tâm; Quang là sáng suốt; Cảnh là mọi cảnh vật vô hình (tức là tư tưởng suy nghĩ bên trong). Nghĩa bóng ba chữ là ý nói trong tâm của người chứng đạo lúc nào cũng sáng suốt, làu làu không hề dính mắc hay chứa chấp một cảnh vật nào, dù là vô vi hay hữu vi. Ở đây chỉ cho bản lai tâm “bản lai vô nhứt vật”.

          Đức Lục tổ Huệ Năng khi nghe Ngài Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn tới câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. (Nên trụ tâm vào chỗ vô sanh) Ngài liền hoát nhiên đại ngộ nói Kệ:

               “Nào dè tánh mình vốn sẵn thanh tịnh,

                 Nào dè tánh mình vốn chẳng sanh diệt.

                 Nào dè tánh mình vốn chẳng động lai,

                 Nào dè tánh mình vốn sẵn đầy đủ.

                 Nào dè tánh mình hay sanh muôn pháp”.

          BƯỚC ĐI TỪ NẤC: Nhà tu, hành trì từ nấc một tiến lên, ít bị bồn chồn vấp phải. Ý chỉ người tu tiệm giáo. Cổ đức xưa từng dạy: “Nói tu chứng thì đốn”(tu tắt). “Trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật”. Nhưng hành trì thì phần nhiều phải tu tiệm mới kết quả chắc chắn, không bị vấp phải:

                   Mình chậm rãi mà tròn đạo ngỡi,

                   Còn hơn người tu xới tu bừa.

                   Giữ chánh tâm bước nấc hạ thừa,

                   Từ chỗ ấy mới đưa trung thượng”.(TS)

          NGOẠI QUAN HÌNH BẤT CHẤP KỲ HÌNH: Bên ngoài thì quán xét mọi hình tướng cảnh vật, nhưng tâm thì chẳng hề dính mắc một cảnh vật nào. Nghĩa là nhà tu hành làm các việc từ thiện, giúp đời, tuy quán biết mọi cảnh vật lành dữ, có, không, động tịnh: ngũ uẩn, lục căn, lục trần, lục thức đều thấy biết rõ ràng, nhưng tâm trí vẫn như như bất động…vẫn tu, vẫn học, vẫn chứng đắc; nhưng không hề thấy mình có tu, có học, có chứng đắc “Thật tế lý địa, bất nhiễm nhứt trần, Vạn hạnh môn trung, bất xả nhứt pháp”.(Nhà tu đúng theo lý pháp của Đạo thì tâm không ô nhiễm một mảy trần nào cả, nhưng đối với muôn hạnh lành trong thế gian thì chẳng bỏ một hạnh nào hết).

          SẮT ĐINH: Hai vật cứng rắn bền chắt không gì làm hư rã. Nhà tu cứ bền lòng như vậy chắc chắn sẽ thành công trên bước đạo. Đức Thầy khuyên:

“Bền lòng giữ dạ sắt đinh,

Đừng phai đừng lợt thân mình thảnh thơi”.

                               (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          BẤT SANH BẤT DIỆT: Nghĩa của chữ Niết Bàn. Niết là bất sanh; Bàn là bất diệt.

 

CHÁNH VĂN

·        97.-Chúng-sanh mê nên đem pháp-thuyết,

·        Giải thoát rồi pháp bất khả dùng.

·        Nương gia-đình kính trọng cội thung,

·        100.-Lo nưng-đỡ trong ngày tuổi hạc.

·        Thân Điên Khùng thế-gian tạm xác,

·        Chén rượu nồng chẳng uống mà say.

·        Say lê-mê lết-mết tối ngày,

·        Say đạo-pháp say mùi hương khói.

·        105.-Biết chừng nào chúng-sanh vượt khỏi,

·        Bể ái-hà rứt bỏ vẹn lau.

·        Say như xưa nhằm lúc Huỳnh-Bào,

·        108.-Trần-Di ngủ say câu thành-tựu.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 97 tới câu 108)

          Vì sanh chúng đang ngụp lặn trong sông mê bể khổ, nên Đức Giáo Chủ quá thương xót phàm trần tạm dùng giáo pháp giác tỉnh quần sanh. Giáo pháp ấy ví như chiếc bè, hay đèn đuốc, thuốc hay để đưa người từ bờ mê sang bến giác, giúp cho người bịnh được lành, kẻ mê si sanh trí huệ.

          Ngài chỉ áp dụng giáo lý ấy trong thời gian giáo huấn và hành trì xong rồi cũng buông xả chớ không bám víu vào một phương tiện nào, kể cả Thầy trò đều được an vui giải thoát.

          Điểm trước tiên là Ngài dạy môn đồ phải làm tròn cái đạo làm người, tức là báo ân Tổ Tiên cha mẹ. Song song với sự niệm Phật làm lành, diệt trừ phiền não để giải thoát sanh tử.

          Lúc lâm phàm, Ngài rất say mê đạo pháp, cũng như người chưa hề nếm rượu mà vẫn say. Bởi Ngài say vì lẽ cơ huyền đạo lý, vì quyết lòng cứu độ quần sanh ra khỏi bờ sanh tử mà thôi. Ngài giáo hóa nhơn sanh với quyết tâm và ước vọng cho đến khi nào giũ sạch lòng luyến ái trần duyên sanh tử, như: Huỳnh Bào Triệu Khuông Dẫn và Trần Hi Di ngủ thuở trước.

 

CHÚ THÍCH

          PHÁP BẤT KHẢ DÙNG: Pháp là một trong ba ngôi quí báu: Phật, Pháp, Tăng. Xưa, sau khi đắc đạo, Đức Phật thuyết ra vô số lời lẽ để giáo hóa chúng sanh. Đó gọi là giáo pháp hay kinh kệ. Sau các đại đệ tử của Ngài kết tập lài thành ba Tạng: Kinh, Luật, Luận để tiếp tục truyền bá khắp chúng sanh. Giáo pháp là phương tiện, ví như thuyền bè, đèn đuốc hoặc thuốc hay.

          Thuyền bè để đưa mình qua sông. Thuốc để trị hết bịnh, đèn đuốc giúp cho biết lối đi. Nhưng khi mọi việc hoàn thành thì khỏi cần dùng nữa. Pháp như thuyền bè đến bến khỏi cần ghe. Vì thế Đức Giáo Chủ dùng câu giảng kế đó: “Giải thoát rồi pháp bất khả dùng”.Nghĩa là khi hành giả còn thiếu phương tiện giáo pháp để qua sông phải nhờ đó để thành công, cho đến khi nào việc đã hoàn thành thì buông xả không còn chấp mắc hay bám víu nữa, chỉ khi nào thấy cần mới áp dụng mà thôi.

          CỘI THUNG: Thung cũng gọi là cây Tòng có đặc tánh sống lâu. Trong văn học cổ gọi là Thung đường (sống lâu) nên chỉ cho người cha, là ý chỉ công sanh thành. Đức Thầy từng nói:

“Lo bề cúc dục cội thung,

Nghe lời Thầy dạy việc chung của đời”.

                             (Viếng làng Mỹ Hội Đông)

          TUỔI HẠC: Tuổi cao, tuổi đã già.

          SAY NHƯ XƯA NHẰM LÚC HUỲNH BÀO: Huỳnh Bào, áo của vua mặc, thường may đủ màu sắc có thêu rồng vàng. Do câu chuyện Trần Kiều binh biến và Triệu Khuông Dẫn lên ngôi ở Trung Hoa.

          Bấy giờ có ba người kết bạn với nhau là Sài Vinh, Triệu Khuông Dẫn và Trịnh Ân, sau làm nên sự nghiệp. Sài Vinh được làm vua, hai người kia cùng phò tá. Sau xảy ra cuộc Trần Kiều binh biến, Sài Vinh chết, quan quân bàn thảo: Con của Sài Vinh còn nhỏ tuổi, không đủ sức cầm quyền nên tôn Khuông Dẫn lên nối ngôi. Vì tình nghĩa bạn thâm giao, Khuông Dẫn chẳng nỡ nhận vậy, nhưng quan quân đồng lập kế, phục rượu cho Khuông Dẫn rồi lấy áo Huỳnh Bào mặc vào rồi khiêng để nằm trên lâm sàng, chừng tỉnh dậy thì việc đã lỡ, Khuông Dẫn đành chịu làm vua.

          Đoạn nầy ý nói khi vận thời đã đến dù việc chẳng tốn công bao nhiêu cũng vẫn thành quả.

          TRẦN DI NGỦ: Cũng gọi là Trần Hi Di Tiên sanh hay Trần Đoàn Lão tổ. Một vị Tiên ẩn cư trên núi Tây Nhạc Huê Sơn thuộc huyện Huê Lâm, tỉnh Thiểm Tây (Trung Hoa). Ông tu đắc được pháp Long Thiền (đi thiếp), cũng là một tay cao cờ. Một hôm, Ông gặp Triệu Khuông Dẫn, lúc còn lưu lạc đó đây hai người cùng rủ nhau đánh cờ ăn thua bằng núi Tây Nhạc. Trần Đoàn vốn biết Khuông Dẫn sau nầy làm nên sự nghiệp (làm vua) mới ra điều kiện. Nếu ông thua thì chung tiền, bằng Khuông Dẫn thua phải giao núi Tây Nhạc cho ông.

          Triệu Khuông Dẫn thầm nghĩ núi ấy của quốc gia, nào phải của riêng ta, ông liền bằng lòng ký giấy để được vào cuộc. Tuy Khuông Dẫn chơi cờ rất hay nhưng làm sao địch lại Trần Đoàn. Vì thế ông bị thua luôn mấy bàn. Sau khi được thiên hạ, Triệu Khuông Dẫn mới vỡ lẽ, đành phải giao núi cho Trần Đoàn. Trước đó gặp thời loạn lạc nhiễu nhương trong đời Ngũ quí, Trần Đoàn ngủ luôn mấy năm mới tỉnh dậy. Nhằm lúc Triệu Khuông Dẫn mới lên ngôi, hiệu là Tống Thái Tổ, ông liền cỡi lừa đi ngoài chợ, vừa uống rượu vừa vỗ tay cười lớn và ngâm lên bài thi:

                  “Vận khí xoay vần nỗi hiệp tan,

                   Huỳnh Bào đắp cật vững âu vàng.

                   Trần gian từ đấy đà vô sự,

                   Ta trở về ngôi ngủ mới an”.

 

CHÁNH VĂN

·        109.-Quyết đưa chúng về nơi non Thứu,

·        Tạo Lư-bồng ngõ hội quần Tiên.

·        Khương Tử-Nha sông Vị còn phiền,

·        112.-Câu không ngạnh chờ non phụng gáy.

·        Thuyền bát-nhã ta cầm tay lái,

·        Quyết đưa người khỏi bến sông mê.

·        Nên phải đành mang lốt làm hề,

·        116.-Mặc bá-tánh khen chê cũng phải.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 109 tới câu 116)

          Đức Thầy giáo độ nhơn sanh có quyết tâm làm sao dìu dắt mỗi người đều được đến cảnh Phật, tức về đến Linh Thứu Sơn. Bằng không được vậy cũng về đến lư bồng để chư Thần Tiên chầu mừng chúa Thánh.

          Khương Tử Nha xưa kia lúc chưa gặp thời nên phải còn ngồi nơi sông Vị mà câu cá. Song ông câu với một lưỡi câu không ngạnh. Khi Võ Kiết phát giác ra, vua Võ Vương mới hay được và đến rước ông về phong làm soái tướng. Rồi sau ông mới đứng ra điều khiển cuộc Phong Thần và cầm đầu 800 chư hầu khắp nước Trung Hoa.

          Về phần giác tỉnh quần sanh thoát vòng mê khổ thì Ngài quyết lái con thuyền Bát Nhã, tức là trí tuệ siêu mầu để đưa rước chúng sanh. Ngài phải mang lốt làm hề, đó là giả dạng nửa hư nửa thật để đánh lạc hướng người Pháp cho tiện bề giác chúng độ đời, dù cho người đời có khen hay chê cũng mặc.

 

CHÚ THÍCH

          NON THỨU: Cũng gọi là Linh Thứu Sơn hoặc Linh Sơn. một hòn núi giống hình con chim thứu (Thứu Điểu) ở tại trung xứ Ấn Độ, nơi Đức Thích Ca thường ngự thuyết pháp độ sanh. Đức Thầy có câu:

                    “Ta vì vưng sắc lịnh ngọc tòa,

                   Đền Linh Thứu Sơn trung chịu mạng”.

          LƯ BỒNG: Một cái đài, người ta cất nơi cao ráo, sạch sẽ để chư Tiên hội trên đó. Đức Giáo Chủ từng viết:

“Các nơi Tiên trưởng đâu đâu,

Lư Bồng hội hiệp đồng chầu Thánh vương”.

                                     (Xuân Hạ tác cuồng thơ)

          KHƯƠNG TỬ NHA SÔNG VỊ CÒN PHIỀN: Khương Tử Nha cũng gọi là Khương Thượng hay Thái Công Lữ Vọng. Ông sanh đời Mạt Thương đầu nhà Châu, một trong 12 người học trò của Nguơn Thỉ Thiên Tôn ở núi Côn Lôn. Sau vâng lịnh Thầy xuống giúp nhà Châu hưng binh phạt Trụ lập nên cơ nghiệp nhà Châu 800 năm.

          Lúc mới xuống núi, vì chưa gặp thời, Thầy Nguơn Thỉ có dặn dò lời tiên tri, phải chịu thời gian nghèo túng suốt 10 năm:

               “Mười năm nghèo túng áo còn bâu,

                 Phải gượng mua vui chớ chát sầu.

                 Ngồi đá Bàn Khê câu đợi vận,

                 Chờ xe vương giả rước về hầu.

                 Tám mươi lẻ nửa mang đai ngọc,

                 Chín chục dư ba buộc ấn hầu.

                 Mậu ngũ hội đàm trăm trấn phục,

                 Phong thần chín tám bốn xuân thu”.

          Thời gian đó, Khương Thượng phải ngồi câu cá tại sông Vị suốt 10 năm. Vì câu thời vận nên ông chỉ câu bằng lưỡi câu ngay ra không có ngạnh.

          CHỜ NON PHỤNG GÁY: Từ xưa, hễ thời loạn lạc thì chim Phụng Hoàng không xuất hiện. Còn thời thái bình có Thánh Chúa ra đời thì có chim Phụng gáy lên chào mừng Chúa Thánh. Như thời vua Nghiêu và vua Thuấn, người ta nghe tiếng chim Phụng gáy vang ngoài đồng nội. Nhưng tới đời vua Võ thì chim phụng ẩn mất. Đến đời mạt Thương sắp hết chuyển sang đời Châu Võ Vương thì chim phụng Hoàng lại gáy trên núi Kỳ Châu để báo tin Thánh Chúa sắp xuất hiện:

                   “Xưa Mạt Thương, Phụng gáy non Kỳ,

                   Bởi Võ Vương đáng bực tu mi.

                   Nay trở lại khác nào đời trước”.

 

CHÁNH VĂN

·        117.-Chí quân-tử lòng nhơn vạn đại,

·        Dốc làm sao rõ mặt tang-bồng.

·        Nghiên hai vai gánh nặng non-sông,

·        120.-Vớt trăm họ lầm-than bể khổ.

·        Ví như loại sanh-cầm hồ thố,

·        Còn thương nhau lại huống chi người.

·        Đứa hai lòng sao chẳng hổ-ngươi,

·        124.-Đáng thùa-thẹn với cây cùng cỏ.

·        Dấu bút tích tuôn bay theo gió,

·        Học sách chi phỉ báng ông cha.

·        Thấy dân tình xem Giảng ngâm-nga,

·        128.-Lão xót dạ đôi lời trần-tố

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 117 tới câu 128)

           Đoạn giảng trên, Đức Giáo Chủ cho biết người quân tử luôn có đức độ rộng lớn hay thương người mến vật giúp đỡ bốn phương. Lúc nào cũng bảo vệ non sông tổ quốc và cứu khổ muôn loài khỏi cảnh lầm than đói rách.

          Đến như hai loài thú là Chồn và Thỏ là vật nhỏ mà khi thỏ chết, chồn phải rầu rĩ khóc than, huống chi loài người đã có tánh linh hơn muôn vật, nỡ nào làm ngơ trước cảnh khổ đau của mọi người hay sao? Nếu ta chẳng có lòng thương yêu nòi giống chắc phải thùa thẹn với cây cùng cỏ.

          Và nếu đã làm người mà đối xử nhau không thật tâm thành ý lại còn thẹn hơn nữa. Kinh sách xưa còn ghi để biết bao tấm gương tốt đẹp, mà nay dân chúng lại nỡ bỏ lãng không nương theo thật là điều đáng thương hại, thống trách.

          Đức Thầy còn than, thấy có nhiều người khi xem kệ giảng cứ ngâm nga chớ chẳng tìm hiểu nghĩa lý để hành theo; Ngài rất xót dạ đau lòng nên trình bày hết sự thật ra cho mọi người được rõ.

 

CHÚ THÍCH

          CHÍ QUÂN TỬ: Người có chí khí rộng lớn. Đức Thầy có câu: “Chữ đại hung đại lực từ bi,

                   Vậy mới trang quân tử nam nhi”.

          Hay:   “Quân tử tùy thời hơi xúc bước,

                     Tiểu nhơn ỷ sức mạnh pha xông”.

          LÒNG NHƠN VẠN ĐẠI: Lòng từ bi rộng lớn hay thương xót cả vạn loại chúng sanh.

          TANG BỒNG: Nói cho đủ là Tang bồng hồ thỉ. Tang là cây dâu, bồng là cây cỏ bồng. Ám chỉ người nam nhi làm việc lớn bốn phương. Theo văn chương xưa, hễ trong nhà có sanh được con trai thì người ta dùng cung bằng cây dâu, mũi tên bằng cỏ bồng, đem ra sân bắn lên trời, xuống đất và bốn phương. Ý tỏ con mình có chí khí khi lớn lên làm việc khắp bốn biển năm châu. Đức Thầy từng tỏ ý chí đó:

               “Tuy thân Thầy lướt cuộc gió sương,

                   Mà thỏa chí tang bồng hồ thỉ”.

          RÕ MẶT TANG BỒNG: Ý dạy người con trai (phận nam nhi) lớn lên phải làm sao cho rạng mặt nở mày của Tổ tiên nòi giống và thân tộc thôn xóm.

          LẦM THAN: (Xem chữ nầy trong STTĐ, trang 192, cột 2).

          SANH CẦM HỒ THỐ: Hai loại sanh vật chồn và thỏ cũng buồn rầu thương tiếc. Nghĩa bóng là nói chồn thỏ là hai loại khác giống mà còn biết thương nhau. Giảng xưa có câu:

                   “Sách có câu thố tử hồ bi,

Huống người là giống tinh vi ở đời”.

          TRẦN TỐ: Cũng gọi là tố trần. Có nghĩa trình bày một sự việc gì ra cho rõ sự thật. Trong Giác Mê Tâm Kệ, Đức Thầy có viết:

                   “Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,

                   Đem đạo mầu như hạn cho mưa.

                   Đặng tố trần tâm ý người xưa,

                   Chữ thậm thâm trong kinh Phật giáo”.

 

CHÁNH VĂN

·        129.-Đức Khổng-Thánh người sanh nước Lỗ,

·        Ngài còn xưng cuồng quyến giả hồ.

·        Sá chi lời đạo-chích tục thô,

·        132.-Kẻ ngu xuẩn khi người nhân-đức.

·        Danh hiền-sĩ non sông náo-nức,

·        Giả như hồi Chiến-Quốc Xuân-Thu.

·        Thầy Mạnh ra dùng đạo châu-du,

·        136.-Lúc thập bát chư-hầu rối loạn.

·        Bực Thánh-nhơn công-lao chẳng chán,

·        Huống chi ta nào dám than-van.

·        Thấy đời mê chưa rõ Phật-đàng,

·        140.-Nên tỏ ý khắp nơi đặng biết.

·        Coi ai có chứa bầu nhiệt huyết,

·        Dùng Đạo mầu cứu vớt sanh-linh.

·        Nếu để chờ sấm nổ vang thinh,

·        144.-E bá-tánh ăn-năn đã muộn.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 129 tới câu 144)

          Đoạn giảng trên Đức Giáo Chủ nhắc câu chuyện của Đức Khổng Tử thời Xuân Thu ở Trung Hoa thuở xưa. Sau khi châu du nhiều nơi, Ngài sáng lập nền đạo Thánh (nho) dạy dân chúng ăn ở hiền lành, luân thường đạo lý, nhân nghĩa hiếu trung.

          Thế mà bọn Đạo Chích còn khinh chê nhạo báng. Nhưng Ngài không màng kể, miễn sao cho tròn cái Đạo làm người mà thôi.

          Học thuyết của Ngài truyền rộng khắp nơi nơi trong bá tánh. Các hiền sĩ bốn phương đều nô nức tìm cầu học hỏi. Tới đời của Tử Tư thì Ngài Mạnh Tử ra đời nối tiếp và được người đời tôn là Á Thánh.

          Hai Ngài và các nho sĩ truyền bá nền Đạo gặp nhiều gian khổ khó khăn, song các ông ấy vẫn bền lòng kiên nhẫn, chẳng hề nản lòng chán mỏi “Bởi đạo cứu khổ đời mới lập ra”.

          Người xưa còn như vậy, huống chi thời nay chúng sanh đang ngụp lặn trong khoảng đời Hạ nguơn mạt pháp, Đức Giáo Chủ và những người có nhiệm vụ cứu đời lẽ nào dám than van hay sao ?

          Vì lẽ chúng sanh quá mê nhiễm cõi hồng trần, Đức Thầy mới quyết khai sáng nền Đạo. Rọi ánh từ quang kêu gọi những ai là người có nhiệt tâm để cùng Ngài truyền bá giáo lý siêu mầu cứu vớt sanh linh. Nếu người đời chẳng chịu thức tỉnh tu hành, để đến ngày sấm nổ thay đổi địa cầu, lập lại cõi đời Thượng nguơn Thánh đức thì dù có hối cải ăn năn cũng chẳng kịp.

 

CHÚ THÍCH

          CUỒNG QUYẾN GIẢ HỒ: “Cuồng giả tiến thủ, quyến giả hữu sở bất vi dã”.(Nếu không được người trì hành cái đạo trung mà Ngài đã truyền dạy thì buộc Ngài truyền dạy cho kẻ cuồng kẻ quyến chăng ! Kẻ cuồng thì tiến thủ (thái quá) kẻ quyến thì chẳng làm đúng theo (bất cập). Họ còn trở lại khinh chê phỉ báng.

          ĐẠO CHÍCH: Tên của một kẻ trộm, sống thời Chiến Quốc Xuân Thu. Sách Mạnh Tử có câu: “Chích chi đồ giả”.(Kẻ trộm cắp là bọn người đạo chích). Cho đến bây giờ (thời hiện đại), người ta cũng còn gọi kẻ trộm cướp là đạo chích. Những kẻ nầy chẳng những lòng dạ gian tà đạo tặc, quấy phá xóm làng mà còn kích bác người hiền lành đạo đức. Cho nên người có đạo xem kẻ đạo chích là kẻ không ra gì và cũng không hề câu nệ hay chấp mắc họ.

          Đức Thầy đã diễn tả hành động của một số người nầy: “Ngày vẩn vơ đầu đường, xó chợ tối kiếm chỗ khoét vách đào tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc. Lớp người cặn bã của xã hội, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhũi trốn chui phá rối sự an ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của, đoạt giựt tài sản của lương dân. Không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được. Họ là giống sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo, sự khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người..”

          NGU XUẨN: Ngu dốt đần độn lắm.

          HIỀN SĨ: Cũng gọi là sĩ hiền. Có nghĩa là bậc hiền tài đức hạnh, có học vấn hơn người:

                  “Hiền sĩ bao giờ cũng ngóng trông,

                   Chừng nào hưng phục cõi trời đông.

                   Lẽ đâu tạo hóa riêng cay nghiệt,

                   Đày sắc mãi chi giống Lạc Hồng”.

          CHIẾN QUỐC XUÂN THU: Cuối đời Xuân Thu trước đời nhà Tần, nước Tàu chia ra làm 7 nước mạnh, gọi là thất hùng cũng gọi là Đông Châu Liệt Quốc. Họ đánh nhau từ năm 403 tới năm 221 trước kỷ nguyên, ấy gọi là thời Chiến quốc. Hiện nay các nước trên thế giới giao chiến với nhau cũng gọi là chiến quốc hay thế chiến (thứ nhứt hoặc thứ nhì).

          THẦY MẠNH: Nói cho đủ là Thầy Mạnh Tử, tức Á Thánh. Ông tên thật là Mạnh Kha, tự là Mạnh Tử, sanh vào ngày 12 tháng 4 năm thứ Tư đời Liệt Vương nhà Châu (372 trước TL). Thân phụ là Thích Công Nghi, hiền mẫu là Cừu Thị, thuộc dòng công tộc Mạnh Tôn. Mồ côi cha từ thuở bé.

          Đời tư của ông lúc còn nhỏ có nhiều thay đổi lạ thường. Một hôm nhà láng giềng có người chết, ông dự đưa đám tang trở về rồi bắt chước đóng hòm đem chôn cất, khóc than kể lể như có người chết thật vậy. Thấy thế mẹ ông lấy làm lo nên dời nhà đi nơi khác. Lúc ở gần lò heo, hằng ngày ông thấy người ta làm thịt heo, mới hỏi mẹ: Người ta làm thịt heo chi vậy mẹ? Bà vui cười nói đùa với con: Người ta làm heo cho con ăn đấy. Mạnh Tử tưởng thật mừng rỡ rong chơi khoe cùng bạn bè là mình sắp ăn được thịt heo.

          Lát sau bà suy nghĩ lấy làm hối hận, bèn mua thịt heo cho con ăn thật. Mạnh Tử thấy người đồ tể sáng sớm bắt heo làm thịt, hao kêu eng éc ông cũng bắt chước, lấy cây đẽo hình con heo, và cũng dùng dao đâm họng heo; miệng kêu eng éc như đâm heo thật vậy. Mạnh Mẫu thấy vậy sợ con ô nhiễm nghề làm ăn đó, nên dời nhà đến gần trường học.

          Ngày ngày thấy bạn trẻ cắp sách đến trường, ông thấy liền xin với mẹ cho đi học. Bà thấy vậy mừng thầm: Ở đây con ta có thể làm nên sự nghiệp.

          Nhưng một hôm Mạnh Tử lại bỏ học trốn về nhà chơi. Vì muốn cảnh tỉnh con, bà vội cắt khung cửi và thôi dệt bỏ đi. Ông kinh hãi quì xuống hỏi:

          -Thưa mẹ ! Vì cớ gì mẹ lại đoạn khung cửi.

          Bà đáp:

          -Nghề dệt là chấp nối từ sợi tơ mới làm nên tấm lụa. Sự học của con cũng thế, hôm nay con bỏ học trở về khác nào khung cửi mẹ đã cắt lìa thành ra vô dụng không thể nào chấp nối lại được.

          Ông hối hận quyết một bề lo học, không còn bê trễ nữa. Nhờ sự dạy con khéo léo ấy mà ông làm nên sự nghiệp vàng son, thế nhân sùng ngưỡng đời đời.

          Trong Tam tự kinh có câu “Tích Mạnh Mẫu, Trạch lân xử, Tử bất học, đoạn cơ trử”. Nghĩa: Xưa, bà Mạnh Mẫu, chọn nhà ba lần để ở, con chẳng học, bà cắt ngang khung cửi và thôi dệt. Sách Tam tự kinh phần yếu giải có chép:

“Tích xưa mẹ Thánh huấn nhi,

Dọn nhằm chỗ ở dắt đi ba lần.

Có khi trẻ chẳng ân cần,

Mình ngồi khung dệt cắt chăn mà thề.

Từ sau cứ học một bề,

Phong làm Á Thánh thành nghề rất ngoan”.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 145 tới câu 156)

          Các bậc Thánh nhơn xưa kia phải phí biết bao nhiêu công lao độ chúng nhưng các Ngài không hề chán mỏi. Cho nên đối với Đức Thầy hôm nay có lý nào Ngài lại nản lòng thối chí hay sao !

          Bởi thấy người đời quá mê đắm trong cõi hồng trần, chẳng thông hiểu con đường về cảnh Phật là gì, nên Đức Giáo Chủ phải bày tỏ hết mọi lẽ để chúng sanh được biết.

          Ngài kêu gọi những ai có nhiệt tình với đạo pháp hãy học lấy đạo mầu hầu cứu vớt sanh linh sớm thoát ly cảnh trầm luân khổ hải. Nếu để trễ bê tới ngày sấm nổ dù có ăn năn cũng không kịp.

 

CHÁNH VĂN

·        145.-Giảng với kệ ra đà bốn cuốn,

·        Ít có người khám rõ cơ-huyền.

·        Ta dừng tay chờ đợi lịnh Thiên,

·        148.-Đức Ngọc-Đế xử phân cho chúng.

·        Đêm dài-dặn cạn dầu tim lụn,

·        Chẳng thấy ai tìm kiếm bóng trăng.

·        Để làm cho mích bụng chị Hằng,

·        152.-Nơi cung nguyệt chờ trông mõn dạ.

·        Thiếu chi kẻ đặng chim bẻ ná,

·        Hiếm bao người được cá quên nôm.

·        Ưa đồ ngon đút nhét đầy mồm,

·        156.-Chẳng thèm kể cha hiền trông đợi.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 145 tới câu 156)

          Từ sau ngày 18 tháng 5 Kỷ Mão, Đức Giáo Chủ khai sáng nền đạo đến trước ngày người Pháp bắt Ngài ra đi. Ngài đã sáng tác một bộ Sấm thi Kệ giảng lớn. Vừa rộng vừa dài đáng kể. Trong đây hàm chứa biết bao cơ thâm huyền diệu, thế mà ít ai khám xét được lẽ diệu mầu trong đó.

          Vì thế, Ngài phải dừng tay lại thời gian để chờ Đức Ngọc Đế xử phân coi lẽ nào. Ngài còn cho biết cõi đời Hạ nguơn Mạt pháp sắp đến ngày tàn cổi như một đêm dài gần sắp mãn và ngọn đèn đã hết dầu, tim đã cháy rụi gần tắt không thấy đường đi. Thế mà ai kia chưa chịu tìm kiếm ánh sáng của mặt trăng (cái đạo) để nương theo.

          Ý nói ít người chịu thức tỉnh để tìm kiếm ánh sáng của trí tuệ (Đạo) mà nương theo. Khiến cho những bậc có trách nhiệm khai Đạo cứu đời chẳng hài lòng, vì đã mỏi lòng trông đợi, bởi chưa được bao nhiêu người quày đầu hướng thiện.

          Ngài cũng thống trách những kẻ chẳng nhớ câu Tục ngữ: “Đặng chim bẻ ná, được cá quên nôm”. Mãi say mê theo sự ăn sang, mặc sướng vinh hiển quyền uy mà nỡ quên đi ân nghĩa của ông cha, Thầy Tổ đang trông đợi mình.

CHÚ THÍCH

          GIẢNG VỚI KỆ RA ĐÀ BỐN CUỐN: Số Sấm Giảng của Đức Giáo Chủ sáng tác từ sau ngày 18/5 đến nay rất nhiều bài, nhưng quan trọng nhứt là chỉ trong vòng 35 ngày (từ trung tuần tháng 8 tới 29 tháng 9) mà Ngài viết bốn quyển Sấm kệ lớn, vừa dài, vừa rộng sâu, hàm chứa rất nhiều ý nghĩa mầu diệu sâu kín như:

          1.-Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm, Quyển I, dài 912 câu, văn Lục bát.

          2.-Kệ Dân Của Người Khùng, Quyển Nhì, dài 476 câu, văn Thất ngôn trường thiên.

          3.-Sám Giảng, Quyển Ba, dài 612 câu, văn Lục bát.

          4.-Giác Mê Tâm Kệ, Quyển Tư, dài 846 câu, văn Thất ngôn trường thiên.

          KHÁM RÕ: Khám xét hiểu biết được.

          CƠ HUYỀN: Cũng gọi là huyền cơ, có nghĩa thiên cơ mầu diệu sâu kín. Trong bài Sứ Mạng, Đức Thầy có viết: “Đến trung tuần tháng tám Ta cùng Đức Thầy mới tá hiệu Khùng Điên, mượn bút mực tiết lộ lấy thiên cơ..” và:    “Đạo hạnh huyền cơ khuyên đó kiếm,

                  Chẳng vậy sau nầy khó thảnh thơi”.

          LỊNH THIÊN: Sắc lịnh của trời đất, tức luật xoay chuyển của tạo hóa. Đức Thầy từng nói: “Thiên cơ thế giới đà biến chuyển”, hay là: “Máy diệu huyền chuyển lập hội Long Hoa, chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện căn để giáo truyền Đại Đạo, định ngôi phân thứ gây cuộc hòa bình cho vạn quốc chư bang”.

          ĐỨC NGỌC ĐẾ: (Xem STTĐ, trang 113).

          CẠN DẦU TIM LỤN: Cây đèn hết dầu tim bị cháy lụn sắp tắt. Ý nói đời Hạ Nguơn sắp tiêu diệt để lập lại Thượng nguơn, nhân loại sẽ chìm trong bóng tối.  

          BÓNG TRĂNG: Ánh sáng của mặt trăng chỉ cho ánh sáng của nền đạo, bởi nền đạo từ trí huệ phát ra.

          MÍCH BỤNG CHỊ HẰNG: Chị Hằng là ánh sáng của mặt trăng. Ý chỉ chư Phật trên cũng như Đức Thầy dùng ánh sáng của trí huệ (Đạo) phổ hóa mọi người, nhưng ít người nghe theo, nên các Ngài phải mỏi lòng mong đợi.

          ĐẶNG CHIM BẺ NÁ, ĐẶNG CÁ QUÊN NÔM: Có nhờ ná mới bắn được chim, nhờ nôm mới bắt được cá, món đồ cần thiết như vậy mà người ta lại quên. Đây ý chỉ người làm được việc rồi lại quên ơn hoặc loại bỏ người đã giúp việc cho mình. Nghĩa bóng: Chỉ cho những người bội ơn bạc nghĩa.

          ƯA ĐỒ NGON ĐÚC NHÉT ĐẦY MỒM: Những kẻ quá tham lam tiền của hay vật thực khi được rồi thì hay quên ơn nghĩa. Đây chỉ cho người phụ bạc công ơn tổ tiên cha mẹ hay nòi giống quê hương. Đức Giáo Chủ từng thống trach những người ấy:

             “Phụ ông cha làm lắm thói bạo cường,

               Giành ăn uống ganh em cùng ghét cháu.

               Trời sanh muỗi là loài thường hút máu,

               Cũng lắm người muợn kế ấy dung thân”.

 

CHÁNH VĂN

·                    157.-Trương-Ban-Xương đành quên nhơn-ngỡi,

·  Nỡ phụ phàng vua Tống-Khâm-Tôn.

·  Xem truyện xưa mà bắt hết hồn,

·  160.-Gớm cho kẻ thay lòng đổi dạ.

·  Gã Tần-Cối ít ai còn lạ,

·  Dụng mưu thần giết thác Nhạc-Phi.

·  Thương trung thần ghét nịnh mặt lỳ,

·  164.-Dám thiết kế hại tôi lương-đống.

·  Thuở Hiến-Đế có nhà họ Đổng,

·        Cũng chuyên quyền muốn tiếm giang-san.

·  Nhờ Tư-Đồ thiếp lập Liên-hoàn,

·  168.-Nghiệp nhà Hớn mới an một lúc.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 157 tới câu 168)

          Mười hai câu giảng trên, Đức Giáo Chủ nhắc đến sử nước Tàu (TH), có ba người tà gian nịnh tặc:

          1.-Thừa tướng Trương Ban Xương sanh đời vua Tống Khâm Tôn.

          2.-Vợ chồng Tần Cối cũng sanh đời Tống, họ dùng đủ mưu thần chước quỉ giết hại hai cha con Nhạc Phi và các anh hùng cứu nước.

          -Hai người kể trên là kẻ quên ân bội nghĩa phản nước phản dân, cầu vinh mãi quốc.

          3.-Người thứ ba là Đổng Trác sanh đời Hớn Mạt đời vua Hiến Đế là một kẻ gian hùng, háo sắc, hảm hại tôi trung. Sách sử dân tình luôn chê bai nhờm gớm. Những kẻ nói trên đã ăn lộc vua hưởng quyền lợi chúa mà đành quên ơn bội nghĩa. Xưa nay sách sử kêu ca than oán. Nhắc đến những tấm gương xấu ấy, người thời nay đáng lẽ phải xa lánh, thế mà có lắm kẻ đòi bắt chước:

               “Trời sanh muỗi là loài thường hút máu,

                 Cũng lắm người mượn kế ấy dung thân”.

                                                   (Không buồn ngủ)

 

CHÚ THÍCH

          TRƯƠNG BAN XƯƠNG: Là một kẻ gian nịnh của hai đời vua Vi Tống và Khâm Tôn (TH). Lúc nước nhà suy yếu loạn lạc, vua Vi Tống mở khoa thi chọn kẻ hiền tài ra giúp nước. Ông gốc ở Hồ Quảng (Huỳnh Châu) làm quan đến chức Thừa Tướng. Trương Ban Xương đã ăn hối lộ của Sài Quế nên khi Nhạc Phi ứng thí, Xương lập mưu hại Nhạc Phi bỏ giáo trường về quê.

          Gặp nước nhà loạn lạc, quân Kim phiên thừa dịp sang đánh phá. Khi quân Ngột Truật Thái Tử nước Phiên đem qua khỏi Huỳnh Hà kéo gần đến Kinh thành, Xương xúi vua Khâm Tôn:

          -Bây giờ giặc đã kéo đến bên thành, không còn cách nào khác hơn là chúa thượng phải sắm lễ vật cho nhiều để cầu hòa. Có thế giang san nhà Tống nầy mới được tồn tại.

          Vua Khâm Tôn quát tháo:

          -Thuở nay có ông vua nào cầu hòa như vậy không?

          Ban Xương đáp:

          -Ngày xưa, Hán chúa gã Chiêu quân, Đường Vương dâng Công chúa. Nay chẳng qua Bệ hạ ngộ biến tùng quyền cứu cấp cho qua thời gian nầy thôi. Vậy Bệ hạ hãy nghe theo hạ thần dâng cho chúng vàng ròng, gấm lụa, mỹ nữ và heo, dê, trâu, rượu đầy đủ ắt Kim Phiên sẽ lui.

          Vua Khâm Tôn vì tánh khí nhu nhược và muốn cứu an nên đổi giận làm vui đành chấp nhận. Thế là cuộc cống hiến bắt đầu.

          Khi dâng lễ vật đến nơi, chúng tướng Phiên động lòng tham, chận lấy hết của cải không thông báo cho Ngột Truật hay, nên vua Khâm Tôn phải vơ vét của kho hai lần nữa để hiến dâng mới kết quả. Ngột Truật ngợi khen rối rích:

          -Ta khá khen nhà ngươi có lòng tốt với ta. (???)

          -Bẩm lang Chúa ! Nếu lang Chúa chẳng chê lão phu (???) ngu muội. Lão xin hiến dâng kế mọn, tất Tống Trào sẽ về tay lang Chúa. Nếu vậy tôi sẽ giết vua Tống đem Thái Tử dâng cho lang Chúa. Chừng ấy lang Chúa muốn gì mà chẳng được.

          Một cuộc đau thương lại diễn ra, em của Khâm Tôn là Điện hạ Hoàng được đưa đến dinh Phiên, nhưng mới tới cửa lại phải chết vì tên quân cận vệ của Ngột Truật.

          Trương Ban Xương lại thiết kế khác, bắt Khương Vương, Triệu Cấu hiến dâng và sau cùng xúi vua Khâm Tôn đem hết các bài vị của Tiên Vương hiện đang thờ nơi Thái Miếu dâng hiến, rồi thừa cơ áp bắt nhà vua nạp cho Phiên kim.

          Vua Khâm Tôn bị cầm tù nơi giếng lạn tại Ngũ Cốc Thành, nơi vùng sa mạc hoang vu và chết lần mòn ở đó.

          Trương Ban Xương được Ngột Truật phong cho chức Sở Vương nhưng sau cùng bị Ngột Truật bắt làm dê chém chết để tế cờ. Một đời của tên gian thần mãi quốc cầu vinh được kết liễu.

          NHẠC PHI, BÀN CỬ: Theo truyện Nhạc Phi diễn nghĩa có chép: Vào đời Tống Vi Tông có người tên là Nhạc Phi, tự là Bàn Cử ở huyện Thang Âm, phủ Tương Châu, tỉnh Hà Nam, vốn là Hộ pháp Thần kỳ Đại Bàn Kim Sí Minh Vương giáng sanh.

          Thuở nhỏ, Nhạc Phi được mẹ là bà An Nhơn và ông Châu Đồng (là Thầy dạy học). Hai người hết lòng dạy ông nghề văn nghiệp võ. Ông lớn lên kết bạn cùng Thang Hoài, Trương Hiển, Vương Quới, Ngưu Cao. Khi nghe Tống trào mở khoa thi chọn nhơn tài dẹp giặc, anh em Nhạc Phi liền vào ứng thí, nhưng bị các quan giám khảo là Trương Ban Xương và Trương Tuấn, Vương Đạt ăn hối lộ của Sài Quế, họ thấy Nhạc Phi giữa giáo trường tỉ thí và giết Sài Quế. Ban Xương nổi giận đuổi bọn Nhạc Phi về quê. Nội bọn đành trở về mang theo nhiều ân oán.

          Mãi đến vua Khâm Tôn bị vua Kim Phiên bắt. Khương Vương, Triệu Cấu tìm cách trốn thoát khỏi dinh Phiên trở về tức vị, hiệu là Tống Cao Tôn, Nhạc Phi mới được vua triệu về Kinh dẹp giặc.

          Lúc ra đi, mẹ ông sợ con vì sự nông nỗi không trung thành cùng vua nên thích vào lưng ông bốn chữ “Tận Trung Báo Quốc” để ông ghi nhớ. Từ chức Thống Chế, Nhạc Phi làm đến phó Nguyên Soái rồi Ngũ Tinh Đại Nguyên Soái, Võ Xương Khai Quốc Công Binh Bộ Thượng Thư Đại Nguyên Soái, lập nhiều chiến công hiển hách, gây dựng cơ nghiệp Tống Trào đang hồi mạt vận.

          Quá tận trung với vua, ông bị gian thần Tần Cối mạo chiếu vua, triệu ông về Kinh giam vào ngục cùng với con ruột là Nhạc Vân và con nuôi là Trương Hiển, sau cả ba đều bị giết tại Phong Ba Đình, hưởng thọ 39 tuổi.  

          Tần Cối vốn là Tân khoa Trạng Nguyên, theo bảo giá Triệu Vương (Điện Hoàng sang làm con tin bên Ngột Truật, Thái tử Kim). Lúc Triệu Vương chết, Ngột Truật bắt Tần Cối đem luôn về Phiên Quốc. Nhờ khéo lòn cúi do đầu lụy, Tần Cối được sống sót song bị làm tôi tớ cho một tên tiểu Phiên. Thời gian sau, Ngột Truật trước khi hưng binh lần thứ ba đánh Tống trào, cho người tìm Tần Cối rồi ưu đãi và thả Tần Cối về nước làm nội ứng. Tần Cối về nước được vua Cao Tông ban chức Lễ bộ Thượng Thư, vợ y cũng được ban chức Nhị phẩm phu nhơn, từ đây, Cối bắt đầu tự tung tự tác trong triều đình.

          Lúc Nhạc Phi đánh binh Kim Phiên thua chạy, tính đánh rốc qua Huỳnh Long Phủ (Kinh thành Phiên Quốc) để rước vua Khâm Tôn về nước thì Tần Cối ton hót với vua bảo Nhạc Phi giải giáp binh mã rồi sau đó dùng 12 tấm kim bài, triệu Nhạc Phi về trào giam vào ngục, lén cho người dẫn ra Phong Ba Đình giết chết.

          Giết Nhạc Phi xong, Tần Cối còn xúi vua bắt hết gia quyến Nhạc Phi đày ra Vân Nam để mượn tay kẻ khác giết chết cả bọn. Song nhờ hào kiệt bốn phương hết lòng ủng hộ nên gia quyến Nhạc Phi được an toàn.

          Tần Cối đã hại Nhạc Phi, nhưng số tôi trung vẫn còn nhiều. Tần Cối bèn soạn chiếu giả để triệu hết bọn tôi trung cùng giết một lần mà trừ hậu hoạn. Song vừa mới soạn thảo bản văn chưa xong, kế Cối thấy hồn cha con Nhạc Phi hiện đến, Tần Cối hồn phi phách tán, chết giấc. Bắt đầu từ đó, vợ chồng Tần Cối mang lấy bịnh ung thư phát bối, chẳng bao lâu thì chết.

          Về sau, người ta cho tạc tượng hai vợ chồng Tần Cối mang gông và xiềng cả hai chân trước mộ Nhạc Phi kề bên có một cái dùi, cho ai có đến viếng mộ thì dùng cái dùi ấy đánh vào đầu vợ chồng Tần Cối, ý để bêu xấu kẻ ác gian, đến chết cũng còn bị sự cực hình đau khổ.

          NHÀ HỌ ĐỔNG: Tức là Đổng Trác. Sanh thời Hậu Hán và là một tay gian hùng, chuyên quyền cả ba đời vua : Linh Đế, Thiếu Đế, Hiến Đế quyết chiếm cho được ngôi vua.

          Đổng Trác hiệu là Trọng Dĩnh, người xứ Lũng Tây, vùng Lâm Thao. Trước là quan Thái Thú quận Hà Đông, vốn là kẻ bất tài, song nhờ khéo dua nịnh đem bạc vàng đúc lót cho bọn Thập Thường Thị nên được thăng quan tiến chức rất mau. Từ Thứ sử Tây Lương thăng lên Hiến Quân, thống lãnh hơn hai chục vạn quân, trấn giữ xứ Tây Châu…Trác bày mưu hiến ngựa Xích thố, mua chuộc Lữ Bố giết Đinh Nguyên và đem Bố về làm con nuôi, để mưu đồ cướp ngôi vua Hiến Đế. Song nhờ có quan Tư Đồ Vương Doãn bày mưu với con gái là Điêu Thuyền thi hành liên hoàn kế. Lúc đầu gả Điêu Thuyền cho Bố, sau đưa sang Đổng Trác để cho cha con ghen tị giết hại lẫn nhau. Sau cùng Lữ Bố giết được Đổng Trác, giúp cơ nghiệp nhà Hán an được một thời.

 

CHÁNH VĂN

·        169.-Cảnh gian-nan như Lưu-Hoàng-Thúc,

·        Qua ở nhờ Viên-Thiệu dung thân.

·        Quan-Công Hầu gìn chặt nghĩa-ân,

·        172.-Vượt năm ãi về thăm huynh-trưởng.

·        Kẻ nghĩa-khí thiên kim vạn lượng,

·        Lũ nịnh-thần sách-sử nào khen.

·        Xem tích xưa thẹn với bóng đèn,

·        176.-Đời lắm kẻ đầu trâu mặt ngựa.

·        Coi sự sống như Tiên nưa-nửa,

·        Mê mồi thơm như cá lục-châu.

·        Sao chẳng lo thức-tỉnh quày đầu,

·        180.-Cho khỏi thẹn với người thiên-cổ.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 169 tới câu 180)

          Vào thời Hớn mạt, có ba anh em kết nghĩa là Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi. Lưu Bị, Trương Phi sau khi thất thủ thành Hạ Bì phải chịu cảnh gian nan vất vả. Lưu Bị qua ở nhờ với Viên Thiệu còn Quan Công phò hai người chị dâu chạy thẳng lên núi Thổ Sơn tạm trú, Trương Phi túng thế phải chạy thẳng Mang Định để lánh nạn. Tào Tháo cho quân vây Quan Công chặt chẽ, Quan Công quyết phá vòng vây mấy phen cũng ra không được. Tào Tháo thấy Quan Công có tài liền cho Trương Liêu ra dụ hàng, nhưng Quan Công giữ đúng lòng ân nghĩa đối với Lưu Bị và Trương Phi.

          Khi nghe được tin Lưu Bị ở bên Viên Thiệu, Quan Công liều treo ấn, vượt qua năm cửa ải và chém sáu tướng của Tào Tháo để sum hiệp với Hớn trào.

          Xưa nay sách sử thường ca ngợi lòng nghĩa khí của Quan Công dù cho có ngàn vàng cũng không sánh được. Còn kẻ tham lam, gian tà nịnh tặc sách sử đều khinh khi                cười nhạo.

          Người trí mỗi lần đọc tới kinh sách truyện thơ đều bắt hổ thẹn cho số người còn tham gian bội phản. Họ chỉ biết sống sung sướng là vinh hiển cuộc đời, lúc nào cũng thế, coi tiền bạc như miếng mồi thơm béo của cá Lục châu trên toàn quốc, nơi nào cũng có.

          Đức Giáo Chủ luôn luôn kêu gọi những người ấy hãy sớm thức tỉnh quày đầu kẻo hổ thẹn với người xưa.

 

CHÚ THÍCH

          LƯU HOÀNG THÚC: Lưu Hoàng Thúc là chú của vua Hiến Đế đời Hớn Mạt. Thuở ấy, Trung Quốc phân ra “tam thân đỉnh túc”(ba nước): Bắc Ngụy (Tào Tháo), Đông Ngô (Tôn Quyền), Tây Thục (Lưu Bị); họ tranh chấp giành giựt lẫn nhau ở Tây Thục. Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi kết nghĩa tại vườn đào rồi mộ binh dẹp giặc.

          Cầm đầu Thục Hán là Lưu Bị. Ông tên thật là Huyền Đức vốn dòng dõi Trung Sơn Tỉnh Vương Lưu Thắng, tức dòng vua Hiến Cảnh nhà Hán. Ông là con của Lưu Hoàng cháu của Lưu Hùng. Thân phụ của ông thi đỗ Hiếu Liêm và có ra làm quan nhưng chẳng may mất sớm.

          Lưu Bị mồ côi cha từ nhỏ, thờ mẹ rất có hiếu, nhà nghèo nhưng không vì thế làm nản lòng ham học của ông, mặc dù hằng ngày phải may dép, dệt chiếu làm kế sinh nhai. Nhà ông ở thôn Lậu Tang, có một cây dâu rất lớn, cành nó đâm ra rất xa, trông như chiếc lộng vậy. Nhiều người trông thấy cây kỳ dị nói rằng: Nhà nầy ắt sanh quí tử. Lúc nhỏ, ông thường đến gốc cây dâu đùa giỡn và nói chơi rằng:

          -Tao làm Thiên tử ngồi trên cổ xe có tàng lộng như cây nầy.

          Chú ông là Lưu Nguyên Khởi nghe vậy thường rầy la, song thấy Lưu Bị co chí khí nên Lưu Nguyên Khởi cho đi du học.

          Lớn lên, Lưu Bị có hình tướng khác thường, mình cao tám thước, hai tai lớn chấm vai, hai cánh tay dài dưới gối, mắt sáng như bạch ngọc, môi đỏ tợ thoa son. Tánh tình khoan hòa ít nói, mừng giận không lộ ra nét mặt, gặp lúc Huỳnh Cân đang gây rối, ông gặp Quan Công và Trương Phi kết nghĩa dưới vườn đào rồi cùng nhau đánh dẹp. Ba anh em có công dẹp giặc Huỳnh Cân nhưng không được trọng dụng nên sang Từ Châu trú ngụ, sau nhân việc Đổng Trác lộng quyền nên 18 trấn Chư hầu đồng tôn Viên Thiệu lên làm minh chủ để dẹp Đổng Trác.

          Sau ông hợp với Tào Tháo giết được bè lũ Lữ Bố nên triều đình thăng thưởng. Nhân đó, vua Hiến Đế mở quyển Tôn tộc thế phổ ra, vai vế thấy Lưu Bị là chú vua nên gọi là Hoàng Thúc (danh từ Lưu Hoàng Thúc được gọi từ đấy và phong ông là Tả tướng quân Nghi thành Đình Hầu),

          VIÊN THIỆU: Lúc bấy giờ Tào Tháo cậy công lộng quyền, tự xưng làm Thừa Tướng, lấn áp quyền vua, nên Lưu Bị và các tướng họp nhau trừ Tháo, nhưng việc bất thành. Sau Lưu Bị nhờ Viên Thiệu hưng binh đánh Tào Tháo để trả thù. Tháo đánh không lại phải nhờ Quan Công ra trận giết hai tướng Nhan Lương, Văn Xủ phá tan quân Viên Thiệu, gở rối cho Tào Tháo một lúc.

          QUAN CÔNG HẦU: Tên thật là Quan Vũ (Võ) tự là Thọ Trường, sau đổi là Văn Trường, người ở đất Giả Lương, tỉnh Hà Đông. Ông vốn trung cang, nghĩa khí bậc nhất đời Tam Quốc.

          Văn Trường đã cùng Lưu Bị, tức Lưu Huyền Đức (dòng dõi nhà Hán) với Trương Phi (tức Lưu Đức) kết bạn và thề nguyền sanh tử với nhau. Nhân dẹp giặc Huỳnh Cân (Khăn vàng) có công mà không được thăng thưởng lại bị bọn Thập Thường Thị đòi tiền hối lộ, ba người tức giận trốn về.

          Sau Lưu Bị chiếm giữ Từ Châu tạm trú, Tào Tháo lúc ấy cậy công lộng quyền xưng là Thừa Tướng lấn áp cả vua Hiến Đế. Rồi kéo hai chục vạn quân tiến đánh Lưu Bị, Lưu Bị thế yếu cho người sang cầu viện với Viên Thiệu. Thiệu không chịu phát binh tiếp cứu. Đang đêm, Lưu Bị cùng Trương Phi đem binh cướp tại Tào, vì lầm mưu phục kích của Tháo, anh em thất bại phá vòng vây mà chạy.

          Lưu Bị chạy về Thanh Châu nương náo cùng Viên Thiệu, còn Trương Phi chạy thẳng lên Mạng Địch San lánh nạn. Quan Công hiện đóng binh ở Hạ Bì thành. Tào Tháo đem binh đến đánh rồi giả thua chạy xa, Quan Công vô tình xua quân đuổi theo. Tháo thừa cơ chiếm Hạ Bì thành rồi đem binh vây bọc tứ phía. Quan Công thấy vội phá vòng vây chạy lên núi Thổ Sơn tạm nghĩ. Tháo lại đem binh bao vây bọc dưới chân núi. Quan Công phá mấy lần nhưng không thoát được, quá kiệt lực ông định tuẩn tiết để gìn lòng trung nghĩa với Lưu Bị.

          Tào Tháo thấy ông vũ dũng và nghĩa khí hơn người nên sanh lòng cảm mến, sợ ông tự tử sẽ mất đi một anh hùng, bèn sai Trương Liêu lên dụ hàng. Quan Công nhứt định thà chết vì chánh nghĩa chớ không hàng Tào. Trương Liêu giải bày: Anh đã thề nguyền sanh tử với Lưu, Trương nay anh chết đi sẽ mất ba trọng tội, còn nếu ra hàng sẽ có ba điều lợi lớn.

          Quan Vân Trường quắc mắt hỏi: Ba điều tội ra sao?

          -Một là nếu Lưu Hoàng Thúc (tức là Lưu Bị) mộng lớn chưa thành, nay lại lưu lạc chẳng biết ở đâu. Nếu còn, ắt sau nầy cũng cần dùng kẻ nghĩa dũng, song lúc đó không có anh thì Hoàng Thúc sẽ thiếu kẻ kiện tướng, mộng lớn sẽ không thành.

          -Hai là Hoàng Thúc phó thác gia quyến cho anh, nay nếu anh chết thì không ai bảo vệ, ắt phụ lòng tin của huynh trưởng.

          -Ba là anh võ dũng siêu quần, lại không phò nhà Hán để lưu danh thanh sử mà đi liều chết với Tào Công phỏng có ích gì !

          Nghe vậy, Vân Trường dịu giọng hỏi:

          -Còn ba điều lợi thế nào ? Xin kể luôn ta nghe thử.

          -Nay tứ phía đều bị vây, nếu anh chống cự e sơ thất, chi bằng tạm đầu Tào Công để nghe tin tức Hoàng Thúc, nếu biết người ở đâu sẽ đến mà tìm. Như thế, một là bảo vệ được nhị Tẩu, hai là chẳng phụ lời thề ư ? Ba là dành được cái thân hữu dụng nầy để giúp nhà Hán. Ba điều ấy mong anh xét lại.

          Quan Công nói: Nay ta có ba điều giao ước, chẳng biết Thừa Tướng có bằng lòng hay không, nếu chịu thì ta sẽ qui phục, bằng thiếu một trong ba điều, ta quyết chọn lấy cái chết mà thôi.

          -Một, đầu nhà Hán chớ không đầu Tào Công, vì ta cùng Hoàng Thúc đồng nguyện giúp nhà Hán.

          -Hai là lấy bổng lộc của Hoàng Thúc mà cấp cho nhị Tẩu ta và không một ai được bén mảng đến chỗ trú ngụ của nhị Tẩu.

          -Ba là khi nghe anh ta ở đâu phải lập tức cho ta đến đó, dầu đường xá ngàn dặm.

          Trương Liêu về bẩm lại, Tào Tháo bằng lòng. Quan Công bèn phò nhị Tẩu theo Tào Tháo cùng về đến Hứa Sương. Tào Tháo dọn tư dinh cho ông ở, ông chia làm hai ngăn, bên trong để nhị Tẩu ở, cho mười tên quân canh giữ, còn ông ở ngăn ngoài. Tào Tháo muốn cho Quan Công cùng nhị Tẩu ở chung nhà cốt để Quan Công loạn nghĩa quân thần, anh em nghi kỵ chia rẽ lẫn nhau, chừng đó Tào công ngồi không hưởng lợi và Quan Công bị kẹt sẽ ở lại phò Táo Tháo mãi mãi. Nhưng Quan Công đốt đuốc ngồi xem sách Xuân Thu suốt đêm, canh chừng cho nhị Tẩu ngủ. Tào Tháo muốn mua chuộc ông, bèn dắt vào triều yết vua Hán, được Hiến Đế phong làm Thiên Tướng quân. Cách vài ngày lại thiết tiệc mà đãi ông, tiệc tan lại tặng đồ trang sức, nhưng ông đều giao lại cho nhị Tẩu cất giữ. Cứ ba ngày ông vào ngăn cửa hỏi thăm sức khỏe nhị Tẩu. Tháo biết được càng nể phục lắm. Nhân thấy ông có bộ râu dài rất đẹp, Tháo liền lấy gấm bông may vải cho ông bọc râu. Vua thấy thế gọi ông là Mỹ Diệm Công (ông râu đẹp).

          Tháo lại lấy ngựa Xích thố của Lữ Bố ngày trước mà ban cho ông và tặng hai chục mỹ nữ, nhưng ông chỉ nhận ngựa còn gái đẹp dâng cho nhị Tẩu.

          Thấy Tháo hết lòng kính trọng mình nên ông tìm cách trả ơn ông. Nhân Viên Thiệu, Nhan Lương và Văn Xủ đem binh đánh Tào Tháo. Binh Tào thua mãi, ông bèn xin ra trận đánh phá binh Viên Thiệu giết Nhan Lương, Văn Xủ được vua Hán Đế phong làm Hán Thọ Đình Hầu.

          Nhờ ra trận, ông dò được tin Lưu Bị hiện tạm trú ở Hà Bắc với Viên Thiệu. Ông liền vào từ tạ Tháo. Tháo không tiếp, ông viết thơ nhờ người trao hộ và đem hết vàng bạc mà Tháo đã cho từ trước mà niêm phong lại và treo ấn trên xà nhà rồi phò nhị Tẩu ra đi. Tháo thấy ông quá cương quyết nên kính phục vội vã đến tiễn ông.

          Thấy Tháo một lòng kính nể ông, nên các tướng dưới quyền của Tháo đâm ra bất mãn, ngăn chận các cửa ải không cho đi, ông buộc lòng phải đánh phá. Ngang ải Đông Linh giết Khổng Tú, đến Lạc Dương giết Hàn Phúc Mạnh Thân, tới Nghi Thủy quan trấn ải là Biện Hỷ cho quân phục xung quanh chùa định ám hại ông, nhưng bị ông sát hại hết cả. Đến Huỳnh Dương đang đêm Quan Thái Thú Vương Thực đến đốt trại, nhờ có mật báo ông thoát nạn và giết chúa tướng một cách dễ dàng. Khi đến Hoạt Châu bị Tần Kỳ ngăn trở cũng bị ông giết chết. Tính ra ông đã vượt qua năm ải và chém hết sáu tướng, nên người đương thời có câu khen tặng ông: “Ông quá ngũ quan, ông trảm lục tướng, ông về Hà Bắc, ông hợp đệ huynh”.

          Sau những lúc bôn ba lưu lạc, Quan Công gặp lại Trương Phi và Lưu Bị. Anh em cùng nhau đồng mưu đại sự. Ông giúp Lưu Bị nhiều chiến công oanh liệt. Nhưng dẫu tài trí có phi thường, nhưng cũng không vượt qua nghiệp số, nên sau ông bị Lữ Mông dùng câu liêm móc giật chân ngựa té xuống mà bắt. Quan Bình thấy cha bị bắt, nóng lòng chạy tới cứu cũng bị bắt luôn.

          Lữ Mông đem ông về cho Tôn Quyền. Quyền thương bậc trung cang nghĩa khí nên cho người dụ hàng. Quan Công khẳng khái đáp:

          -Ta cùng Lưu Hoàng Thúc kết nghĩa tại vườn Đào thề cùng sống chết, quyết lòng phục hưng cơ nghiệp nhà Hán. Nay ta bị bắt xin lấy cái chết để đền ơn tri ngộ cùng huynh trưởng ta mà thôi, chớ danh lợi khuyến dụ ta vô ích.

          Tôn Quyền nghe vậy, biết không thể phủ dụ được, lại sợ gương trước khi ông ở với Tào Tháo, nên truyền xử trảm cả hai cha con. Lúc đó Quan Công mới ba mươi tám tuổi.

          Bởi lòng trung cang nghĩa khí như vậy, nên sau khi chết, Quan Công được hiển Thánh và đến suối Ngọc Tuyền thọ giáo với Trí Giả Thiền Sư và sau chứng quả Già Lam Quan Đế.

          NGHĨA KHÍ: Khí tiết của bậc anh hùng. Thấy kẻ hoạn nạn thì ra tay giúp đỡ, gặp việc bất bình thì đem thân đỡ nâng can thiệp. Trường hợp Quan Công có thêm đặc điểm ân đền, nghĩa trả và không giết người dưới ngựa.

          KẺ NGHĨA KHÍ THIÊN KIM VẠN LƯỢNG: Là ý nói người có lòng nghĩa khí quí báu như ngàn vạn lượng vàng còn mãi trong sử sách. Trong Nang Thơ Cẩm Tú, Đức Thầy có viết: “Tiết trung lương hiếu nghĩa rạng ngần”.

          LŨ NỊNH THẦN: Bầy tôi gian tà nịnh tặc, vì tham lợi cá nhân mà nỡ hại dân nước (mãi quốc cầu vinh).

          NGƯỜI THIÊN CỔ: Người xưa, người đã từ trần một trăm năm về trước và đã có lòng ưu dân ái quốc, được ghi vào sử sách để dạy dân từ trước tới giờ.

          ĐẦU TRÂU MẶT NGỰA: Theo Kinh sách xưa thì kẻ đầu trâu mặt ngựa là quỉ xứ ở cõi âm phủ. Mình và tay chân là người mà cái đầu lại giống con trâu hoặc ngựa.

          Nghĩa bóng là chỉ cho phường vô lại, chẳng biết thương người, chỉ lo sao được lợi ích riêng mình là được.

          CÁ LỤC CHÂU: Chỉ cho các loại cá tham ăn mê mồi bất kể là thơm thúi trong sạch, như cá Sát hoặc cá Út chẳng hạn, khắp nước nơi nào có động nước là chúng đến.

          Nghĩa bóng là nói kẻ tham mê quyền lợi, sâu dân mọt nước. Trong bài Bạc Liêu, Đức Thầy có nói:

                   “Lưng chừng bèo dạt thân hành đạo,

                     Bị lũ a dua cá út thiều”.

 

CHÁNH VĂN

·        181.-Cấp-Cô-Độc là nhà bá hộ,

·        Còn đành lòng bố-thí xả thân.

·        Chữ vinh-hoa phú-quí chẳng cần,

·        184.-Miễn hiểu đạo hơn là châu-báu.

·        Chẳng sớm lo chần-chờ sợ Lão,

·        E sau nầy tâm-não đoạn-trường.

·        Lũ gian-hùng mang lấy họa-ương,

·        188.-Trời đất xử những người bội phản.

·        Phải chổi dậy nương dây hùng-tráng,

·        Chữ đại-hùng đại-lực từ-bi.

·        Vậy mới trang quân-tử nam-nhi,

·        192.-Thân dốc vẹn hai câu ngay thảo.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 181 tới câu 192)

          Đoạn giảng trên, Đức Thầy nhắc lại truyện ông Cấp Cô Độc là một phú trưởng giả, sanh đồng thời với Đức Phật Thích Ca. Ông có lòng kính tin Tam Bảo và bố thí cao độ, ông thường đem vàng bạc nuôi kẻ neo đơn cô quạnh và xây cất Kỳ Viên Tịnh Xá để Phật có nơi thuyết pháp hóa độ chúng sanh. Sau cả nhà đều tu hành chứng quả. Cho đến bây giờ Kinh sách vẫn còn chép ghi sử nghiệp của ông mãi mãi.

          Đức Thầy kêu gọi bá tánh sớm thức tỉnh tu hành, nếu mãi e dè nghi hoặc sợ Ngài, tất sau nầy phải gánh chịu nhiều nỗi đau thương gian khổ. Bởi tới đây Trời Phật sẽ phân xử, giáng tai nạn cho kẻ gian hùng, hai dân hại nước.

          Ngài kêu gọi khắp chư môn Phật tử hãy sớm trổi dậy nương theo ánh sáng đức Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi của Phật để xứng đáng là người trượng phu quân tử và cũng để gìn tròn bổn phận hiếu trung ngay thảo.

 

CHÚ THÍCH

          CẤP CÔ ĐỘC TRƯỞNG GIẢ: Ông sanh đồng thời với Phật. Vốn là một triệu phú, giàu có hơn hết những người quanh vùng. Ông tên thật là Tu Đạt Đa (Sadatta).

          Sở dĩ người ta ca ngợi ông là Cấp Cô Độc là vì ông từng bỏ tiền ra nuôi kẻ cô quạnh neo đơn.

          Hôm nọ ông có dịp đi buôn qua Vương Xá, ông ghé lại Tịnh Xá Trúc Lâm để nghe Phật thuyết pháp. Sau khi được nghe pháp, ông chứng quả Tu Đà Hoàn.

          Lòng tin tưởng Phật pháp phát lên cao độ, ông liền trình với Đức Phật cho ông xây cất một Tịnh xá để Phật thuyết pháp và có nơi an cư nhập hạ cho chư Tăng. Được Phật chấp nhận, ông trở về nước hỏi mua miếng vườn của Thái tử Kỳ Đà. Hai bên với sự đồng ý là người mua đem vàng lót tới đâu thì người bán giao đất tới đó.

          Cấp Cô Độc đem vàng lót hết đất trong vườn cây của Thái Tử, nhưng còn cái gốc cây chưa lót được. Ông đang đứng suy nghĩ phải làm sao lót cho giáp đất. Thái Tử thấy vậy tưởng lầm ông còn tiếc của, nên nói: Ông bằng lòng thì mua, bằng sợ hao vàng thì thôi, của tôi còn của tôi.

          Cấp Cô Độc mỉm cười đáp:

          -Chẳng phải tôi tiếc của mà đang suy nghĩ phải chở kho vàng nào đem lót cho vừa. Nói rồi, ông cho người tiếp tục chở vàng đến lót. Thái Tử thấy vậy cũng phát tâm hoan hỉ, nói:

          -Thôi ! Tinh thần ngưỡng mộ Phật pháp của ông đã đáng kính rồi. Còn lại chỗ trống các gốc cây thì để phần tôi.

          Do việc đó về sau ai ai cũng ca ngợi là “Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên” (Vườn sân Tịnh Xá là của Cấp Cô Độc, còn các cây cao rợp mát là của Thái tử Kỳ Đà).

          Từ đó, các bài thuyết pháp của Đức Phật phần lớn là xuất phát tại đây và liên quan đến các phương cách tu tại gia Cư sĩ.

          Về sau, hai ông bà Cấp Cô Độc và ba người con đều tu chứng quả.

          BÁ HỘ: Nhà giàu lớn có cả trăm thiên.

          BỐ THÍ: Bố là rải ra, thí là cấp cho. Người đem vật sở hữu của mình trợ cấp cho kẻ khác gọi là bố thí. Bố thí có 3 cách: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí. (Xem thêm CT chữ Bố thí trong STTĐ, Q.1, trang 44).

          CHẦN CHỜ SỢ LÃO: Trù trừ giải đãi vì nghi sợ Đức Thầy gạt gẫm.

          HÙNG TRÁNG: Sức mạnh mẽ đủ hùng lực.

          CHỮ ĐẠI HÙNG ĐẠI LỰC TỪ BI: Ba từ ngữ nầy là để tán tụng công đức của Phật, dám lìa bỏ quách thành, thê tử đi tu gọi là chí Đại Hùng.

          Hàng phục đặng Ma Vương dưới cội Bồ Đề là chí Đại Lực.

          Sau khi đắc Đạo, không nỡ nhập Niết Bàn vẫn trụ thế giáo độ chúng sanh ấy là Đại Từ Bi.

          QUÂN TỬ: (Xem STTĐ, trang 334, cột 2).

          NGAY THẢO: Do câu “Trung quân vương, hiếu phụ mẫu”. Tức là trung chánh ngay thật với đất nước là trung, tôn kính và bảo dưỡng Ông bà Cha mẹ là hiếu thảo.

CHÁNH VĂN

·        193.-Đời cũng lm bao người giá áo,

·        Nương bả vinh nhiều hạng túi cơm.

·        Thấy dân ngu trong dạ sẵn hờm,

·        196.-Quyết kiếm thế đặng toan lừa-dối

·        Ngọn bút sắt chỉ đường người tối,

·        Gậy kim-cang đưa chúng lên đàng.

·        Kịp nương theo trực chỉ Tây-Phang,

·        200.-Đến Cực-lạc tìm nơi an-dưỡng.

·        Dẹp cầy cáo dùng cây thiền-trượng,

·        Lánh ta-bà cõi thế đua chen.

·        Được vinh-hoa khinh-bĩ kẻ hèn,

·        204.-Bạn phản bạn như người Bùi-Kiệm.

·        Trên mặt đất hạng người ấy hiếm,

·        Thấy Tiên mù xô xuống giữa dòng.

·        Nhìn Trịnh-Hâm Lão bắt mủi lòng,

·        208.-Than cặn-kẽ kêu dân sớm tỉnh.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 193 tới câu 208)

          Đức Giáo Chủ nhận xét trong đời có lắm kẻ giá áo túi cơm, ăn hại của dân chúng chẳng có công sức gì đối với mọi người. Hễ thấy ai ngu khờ hơn mình thì chờm hờm tìm cách dối trá để thủ lợi.

          Vì lòng thương xót sanh linh, Đức Giáo Chủ mượn bút sắt ngòi nghiên thế cho bút lông giấy bạch (giấy quyến) như trước để viết ra Kệ giảng, vạch con đường sáng suốt cho mọi người bước theo nẻo Đạo. Đó là phần sự tướng, còn phần lý tánh thì Ngài dùng lòng cứng rắn như sắt đá để dìu nhơn sanh qua bể khổ. Ngài cũng khuyên khắp môn đồ Phật tử nương vào lòng cang cường ấy tiến thẳng về Tây Phương Cực lạc.

          Về ngoại cảnh thì Ngài cũng dùng sức mạnh của tinh thần định huệ mà dẹp tan và vượt qua bước gian truân khổ hải. Còn về nội tâm thì dùng sức thiền định để phá trừ dục vọng vô minh mà đạt quả Bồ Đề Chánh Giác, hầu lìa cảnh Ta bà thống khổ.

          Ngài cũng nhắc lại tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu sáng tác. Trong đó phần triết lý có đề cập tới Bùi Kiệm và Trịnh Hâm là hai người bạn không tốt, tìm mưu độc hại bạn Lục Vân Tiên, ngày kết cuộc phải bị trả quả một cách đớn đau nhơ xấu.

 

CHÚ THÍCH

          GIÁ ÁO TÚI CƠM: Cái giá máng áo và cái túi đựng cơm, không giúp đỡ gì được ai. Nghĩa bóng chỉ cho hạng người chẳng ra gì. Ví dụ: Phường giá áo túi cơm chỉ biết ăn hại bá tánh.

          NGỌN BÚT SẮT: Ngòi viết bằng sắt thép. Thời xưa nước ta và người Tàu dùng viết mực bằng bút lông và nghiên mực. Thời Pháp thuộc thì xài bằng bút sắt và bình mực. Tất cả đều chỉ cho sự nghiệp văn chương, Đức Thầy có câu:

“Bút lông dẹp với dĩa nghiên,

               Thế vào bút sắt cùng viên mực tròn”.(Hoài cổ)

          GẬY KIM CANG: Cũng viết là Kim Cương. Có hai nghĩa: Sự tướng và lý tánh. Về sự tưóng: Kim là vàng; Cang (cương) là hột soàn hay chất gan. Các chất nầy hòa lại rất cứng rắn, sắc bén (chặt sắt được). Về lý tánh có 3 đặc tánh cao quí: 1- Hơn hết các món báu. 2- Hơn hết các chiến cụ. 3- Không hư hoại. Nghĩa bóng : Là chỉ cho lòng thiết thực cứng rắn, nhà tu nhờ nó mà độ mình giúp chúng, trừ ma tà vọng hoặc ra khỏi sanh tử về đến Cực Lạc an cư.

          CẦY CÁO: Cũng gọi là cáo cầy. Hai loại thú rừng cùng một loại với chồn. Ở đây chỉ cho các loài thú rừng, hay phá ruộng rẫy mùa màng của mọi người. Nghĩa bóng: Là chỉ cho vọng tâm phiền não, dục vọng thất tình làm cho người tu không yên tâm niệm Phật để yên vui miền lạc cảnh

          THIỀN TRƯỢNG: Cũng gọi là Tích trượng, tức là cây gậy các nhà tu cầm nó đi đường làm cho yêu ma rắn rít không nhiễu hại ngăn chận được. Nghĩa bóng chỉ cho sự thiền định có diệu năng giúp hành giả trên đường tu dẹp tan được thất tình lục dục, lục căn, lục trần và các mê si tà kiến, ma nghiệp phiền não dể đạt được sự an định phát sanh trí tuệ, kiến tánh thành Phật. Cũng như lúc Ngài Sĩ Đạt Ta ngồi tham thiền dưới cội Bồ Đề dùng thần thông nghị lực thâu phục được Ma Vương (hiện thân của dục vọng) mà thành quả Chánh Đẳng Chánh Giác.

          Đức Giáo Chủ hiện nay cũng khuyên môn đồ:

                  “Quay về cội phúc đường chân Đạo,

                   Phật pháp thiền na dốc thực hành”.

          TA BÀ: (Xem STTĐ, trang 361, cột 1, tập 1).

          VINH HOA: (Xem chữ Vinh Huê trong STTĐ, trang 475, tập 1, cột 2).

          BÙI KIỆM, TRỊNH HÂM: Hai nhân vật trong tác phẩm “Lục Vân Tiên” của cụ Đồ Chiểu thời cận đại, hư cấu ra để diễn tả người đời, tình bạn không tốt, thừa cơ hại Lục Vân Tiên rốt cuộc đều bị nghiệp quả báo đền.

 

CHÁNH VĂN

·        209.-Viết ít câu cho đời ngâm vịnh,

·        Phận tài sơ xin hãy thứ tha.

·        Yêu nhơn-sanh trổi giọng hùng ca,

·        212.-Tạm nghiên bút vẽ tranh thế tạo.

·        Trong bá-tánh nhìn xem châu-đáo,

·        Chớ vội-vàng chê Lão ngu-si.

·        Rạch lang-tâm những đứa vô-nghì,

·        216.-Nhắc sơ tích người xưa trong  sử.

·        Khuyên bá-tánh vạn dân gìn-giữ,

·        Lão chúc cầu thiên-hạ thái-bình.

·        Đứng trung cang hành thiện truy kinh,

·        220.-Mong trên dưới cùng nhau thảo-thuận.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 209 tới câu 220)

          Tới đây, Đức Giáo Chủ dùng lời khiêm nhượng với vạn dân bá tánh cho dù có tài sơ trí siển song Ngài cũng nói ít lời cho mọi người xem coi học hỏi và có chỗ nào không vừa ý xin hãy thứ tha.

          Bởi lòng quá yêu sanh chúng nên Ngài mượn giấy mực và ít lời kệ cơ, vẽ thành một bức tranh cảnh đời mà tạo hóa sắp diễn ra để khắp vạn dân tìm xem học hiểu.

          Ngài nhủ khuyên bá tánh nên đọc hết qua kệ giảng và tìm hiểu cho thấu đạt nghĩa lý trong đây rồi sẽ quyết định. Chớ chẳng nên phê phán một cách vội vàng hời hợt. Bởi vì Ngài nhiệt tình đem tiếng nói tự đáy lòng để vạch rõ tâm địa xấu ác của bá tánh hiện nay cho mọi người hiểu rõ. Đồng thời Ngài cũng nhắc lại những tích trong Kinh sách thời xưa cho mọi người được nhớ mà chừa bỏ những thói hư tật xấu, gìn giữ mà học đòi các tấm gương thiện lương trung hiếu. Ngài cũng ước mơ cho khắp thế giới đều hưởng sự thái bình an lạc và mong ước mọi dân tộc đều biết thương yêu thuận thảo đoàn kết lẫn nhau trên đường tầm cầu chơn lý.

 

CHÚ THÍCH

          TẠM NGHIÊN BÚT VẼ TRANH THẾ TẠO: Mượn bút mực và giấy viết họa lên bức tranh của cảnh trần sắp xảy ra mà do người đời tạo nhân từ xưa, giờ đây sắp đến ngày hưởng quả:

“Nhìn vạn vật cuộc đời ngao ngán,

Bởi hoàn cầu thù oán cứ gây.

Vẽ hình rồi lại vẽ mây,

Vẻ tranh thiên tạo Bồng Lai cảnh tình.

Lại thêm vẽ phù sinh cõi tạm,

Dắt hồn người hắc ám khỏi mang”.

                     (Đến làng Nhơn Nghĩa, Cần Thơ)

          XEM CHÂU ĐÁO: Xem xét một cách xác đáng tân tường.

          RẠCH LANG TÂM: Rạch là vạch ra. Lang tâm là lòng lang dạ sói. Ý chỉ Đức Thầy hiểu rõ lòng xấu xa sai quấy của mọi người để lo cải sửa.

          VÔ NGHÌ: Chẳng phải, trái lý đạo nghĩa.

          TRUNG CANG: Trung thành với quốc dân và nền Đạo nghĩa của nước nhà.

          TRUY KINH: Đọc hiểu và gìn giữ y theo những lời trong Kinh sách đã chỉ dạy, Đức Thầy từng khuyên:

                  “Hành thiện truy kinh thị sĩ hiền,

                   Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp,

                   Phật tiền hữu nhựt vĩnh miên miên”.

                                                (Hiếu Nghĩa vi tiên)

 

CHÁNH VĂN

·        221.-Đã thấy lộ cơ trời báo ứng,

·        Diệt loài gian tầm kiếm con Tiên.

·        Nợ hồng-trần túc-trái tiền-khiên,

·        Ta quyết dẹp cứu nàn dương-thế.

·        225.-Noi chí đức Hoàng Thang luật chế,

·        Đời không hay những việc xa vời.

·        Gặp cơn mưa ta hãy cho tơi,

·        Lúc hạn nắng từ-bi giúp nón.

·        229.-Cảnh thế-tạo càng ngày thỏn-mỏn,

·        Giống vi-trùng thường đục phổi tim.

·        Đến cơn đau phương thuốc phải tìm,

·        232.-Gặp Biển-Thước, Hoa-Đà lai thế.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 221 tới câu 232)

          Đoạn giảng trên, Đức Giáo Chủ cho biết cơ tận diệt sắp diễn ra để chọn lọc hiền còn dữ mất, dân chúng khắp nơi phải chung chịu: Nào thế chiến thứ hai, nào thiên tai địa ách sắp xảy ra liên tiếp.

          Đây là do lòng bạo ác của số người gieo nhân, giờ đây phải chịu luật quả báo trừng phạt:

“Luật trời báo ứng nhãn tiền,

             Khắp trong thiên hạ đảo huyền từ đây”.(SG, Q.1)

          Vì thế, những người có trách nhiệm cứu dân độ thế như Đức Thầy đã trừ dứt nợ oan khiên, tu bồi tâm đức từ nhiều tiền kiếp. Giờ đây trở lại khuyến hóa nhân sanh đồng gieo nhân từ thiện để kịp vượt qua thời kỳ chọn lọc.

          Công cuộc cải tạo đời tân, Đức Giáo Chủ khuyên mọi người có bổn phận noi theo chí đức của vua Thành Thang đời Hạ Kiệt thuở trước, để thi hành cho đúng đức độ của Đạo làm người nhân, hiếu, tiết, nghĩa song toàn. Chính đó là cái nhân tạo nên cảnh đời Thượng nguơn Thánh đức sắp tới.

          Cảnh đời chúng ta đã tạo và đang sống, nó sẽ bị tiêu hoại trong một ngày gần đây, không còn xa lắm. Như người có bịnh đang bị các vi trùng từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, cộng với bên trong đang hoại phá, làm cho ngũ tạng của ta phải đau khổ giày bừa cho đến khi biến đổi cuộc đời. Đức Thầy hằng khuyên: Ai muốn thoát ly cảnh huống ấy phải tự xét mình: Nếu bịnh về bên ngoài tất phải tìm Bác Sĩ, danh y giỏi điều trị. Còn tâm bịnh và dục vọng phiền não thì phải tìm cho được Tiên y, Phật dược, như hai vị thần y đời Xuân Thu và Tam Quốc (Biển Thước, Hoa Đà) rồi hành y theo lời dạy của các ông ấy mới mong kết quả.

 

CHÚ THÍCH

          CƠ TRỜI BÁO ỨNG: Cơ trời là máy trời, báo ứng là đáp lại, trả lại. Đây là chỉ cho luật báo ứng của nhân và quả, hành thiện kết quả lành. Tạo nghiệp ác hung thì kết quả dữ. Đức Giáo Chủ từng cho biết:

“Luật trời báo ứng nhãn tiền,

           Khắp trong thiên hạ đảo huyền từ đây”.(SG, Q.1)

          Và:    

“Luật nhân quả thật là cao viễn,

           Suốt cổ kim chẳng lọt một ai”.(KT,Q.5)

          Hoặc là:

“Đời xưa quả báo thì chầy,

              Đời nay quả báo một giây nhãn tiền”.(SG, Q.3)

          DIỆT LOÀI GIAN: Cơ chọn lọc của Trời Đất tiêu diệt số người hung ác, chọn lại những con Tiên cháu Phật để lập lại đời tân. Đức Thầy diễn tả cơ chọn lọc hiền còn dữ mất ấy:

              “Diệt kẻ quấy lọc lừa dân lương thiện.

                Mong tạo hóa sắp xong tuồng cổ điển,

                Đặng nhân sanh kiến cảnh thái bình hòa”.

                                                (Không buồn ngủ)

          NỢ HỒNG TRẦN: Nợ thế, nợ trong cõi trần gian. Người sống trong cõi hồng trần ai ai cũng đều có vương nợ và phải đền trả. Ví như: Nợ đời gia đình con vợ…Còn nữa: tức nợ Tứ ân, nợ Tam nghiệp. Đức Thầy có khuyên:

“Tu đền nợ thế cho rồi,

Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen”.

          TÚC TRÁI TIỀN KHIÊN: Nghiệp nợ do mình gây tạo kết cấu oan trái rất nặng nề đã gây tạo nhiều kiếp trước, giờ đây đã đầy đủ (chín mùi) tất phải chịu báo ứng. Đức Thầy có câu:

                   “Những nỗi tiền khiên gây lắm nợ,

                   Đời nầy trả dứt mới mong cầu”.

                                         (Cho cô Hai Gương, Cần Thơ)

          Còn món nợ đặc biệt nữa là nợ vì chúng sanh và Đạo pháp. Như Đức Phật Thầy Tây An đã nói:

                    “Nợ tiền khiên Bồ Đề giống trước,

                     Vẹn một mình mới vẹn ba phân”.

          Đức Thầy nay cũng nói rõ:

                   “Nợ cùng bách tính hãy còn vương”.

          Từ ngữ nầy, Đức Thầy có dụng ý cho biết ai muốn độ mình và cả chúng sanh thì trước phải trả dứt nghiệp nợ oan khiên nói trên mới mong kết quả.

          CHÍ ĐỨC HOÀNG THANG: Tâm hành và chí đức hay chí khí của vua Thành Thang. Vua Thành Thang trước kia là một chư hầu của vua Thương, họ là Từ Thị, hiệu là Thiên Ất hay Thành Thang, mình cao 9 thước (thước Tàu hồi đó). Ông là người có đủ nhân từ đức hạnh.

          Một hôm vua Thành Thang đi du ngoạn ngoài thành thấy dân đánh cá lưới chim. Bủa lưới đủ bốn mặt xong, họ khấn vái: “Con nào từ trên trời đi xuống, từ bốn phương lội lại (đi tới) đều vào lưới ta”. Vua Thang nghe vậy liền than: Như vậy thì dân chúng bắt hết cá chim hay sao ? Ngài liền ra lịnh những người ấy dỡ hết ba mặt lưới và nguyện cầu lại: “Con nào muốn đi bên phải, bên trái thì cứ đi, con nào không vang lịnh thì đi vào lưới ta”. Các nước chư hầu nghe vậy đồng khen Vua Thang là người có nhơn đức, biết thương yêu cả chim muông điểu thú.

          Sau vua Thành Thang rước được một bậc kỳ tài ẩn sĩ, tức là ông Y Doãn ở đất Hữu Sằn về giúp. Thấy bậc hiền tài, vua Thành Thang đem dâng cho vua Kiệt. Vua Kiệt không dùng nên ông Y Doãn trở về hợp chư hầu phò vua Thang đem quân vào bắt vua Kiệt đày ra đất Nam Sào, nay thuộc tỉnh An Qui.

          Nhà Hạ bị diệt từ đó. Vua Thành Thang đuổi Hạ Kiệt xong, lên ngôi Thiên Tử, đóng đô ở đất Bạc, lấy hiệu là nhà Thương. Vua Thang họ Tử Thị cũng gọi là dòng vua Huỳnh Đế. Nhà Thương trị vì được 661 năm truyền đến vua Bàn Canh thì dời đô qua đất Bạc và đổi hiệu là nhà Ân…

          HOÀNG THANG LUẬT CHẾ: Vua Hoàng Thang bỏ luật của Hạ Võ, chế lại luật pháp mới hợp với lòng dân, tạo nên cảnh đời an lạc suốt con cháu, truyền suốt 661 năm.

          Một hôm ông đi du ngoạn ngoài đồng thấy những người đi săn đang bủa lưới bốn hướng và khấn vái: “Trên trời sa xuống, dưới đất chun lên, tất cả bốn phương đều võ mảnh lưới ta”.

          Ông Thang nghe lời nói ấy, liền than thầm. Như vậy muông cầm điểu thú bị bắt hết còn gì !

          Ông liền truyền lịnh mở rộng bốn phía lưới, bảo các thợ săn nguyện vái lại: “Muốn qua thì qua muốn lại thì lại, ở trời sa xuống, ở đất chun lên, muốn ra chạy ra. Con nào hết mạng sống thì vào lưới ta”.

          Bấy giờ các thú đều thoát ra chỉ còn số ít bị kẹt lại, đời sau người ta thường nói: “Mở lưới Thành Thang” tức là muốn nhắc lại lòng nhơn đức của vua Thành Thang.

          Sau đó, ông liền chế ra các điều luật để ổn định đời sống của nhân dân như sau:

          1.-Chánh Thất Tiết: Trên thì vua luật nước phải phân đoán công bình cho bá tánh. Dưới các quan phải thẩm xét cho được ngay thẳng để dân chúng được nhờ.

          2.-Nữ Tiết Hạnh: Không được bắt gái đẹp sung vào cung vua, và các cô gái hạnh nết luôn giữ nghiêm chỉnh không nên học thói lăng loàn.

          3.-Dân Thất Chức: Kêu gọi và giúp đỡ dân thất nghiệp, lo cho đời sống khỏi bị đói khó nghèo khổ.

          4.-Bảo Thơ Hành: Không được ỷ mình quan lớn hiếp đáp quan nhỏ, mà phải đối xử bình dân và biết thương yêu lẫn nhau như con đỏ.

          5.-Sung Cung Thất: Từ vua đến dân nhà cửa đều như nhau không phân biệt. Nếu có tiền, dân quan vẫn được quyền xây cất nhà cao cửa rộng như nhau.

          6.-Phàm Phụ Xướng: Những kẻ nịnh bợ quan thần đều bị sa thảy (cách chức hết). Chỉ chừa lại các quan thanh liêm chánh trực mà thôi.

          Nhờ các điều luật chế đó mà vua Thành Thang huấn luyện các chư hầu và cả nước đều đối xử thái bình an lạc hơn 6 thế kỷ (661-1783, trước Tây lịch Kỷ nguyên).

          Do đó, giờ đây Đức Thầy cũng khuyên các nhà cầm quyền hiện tại: Muốn cho nước mình được an cư lạc nghiệp, nên noi theo chí đức của vua Thành Thang mà thành lập pháp trị trong nước.

          CHO TƠI: Tơi là áo mưa, tức áo che mưa. Xưa, người ta kêu áo che mưa là áo tơi. Đây nói người hảo tâm hay giúp người qua cơn khi gặp trời mưa rét lạnh.

          TỪ BI GIÚP NÓN: Khi gặp cơn nắng hạn thì giúp nón để bớt cơn nóng bứt. Vậy chữ “cho tơi giúp nón” là nói đến người có lòng nhơn (từ bi) hay cứu khổ nhân sanh lúc nguy nghèo.

          CẢNH THẾ TẠO: Cảnh đời hay cả thế giới con người đang sống và mọi sự sang hèn vui khổ là do tâm nghiệp của người đã gây tạo từ trước, bây giờ đáo lại (gieo gió gặt bão).

          CÀNG NGÀY THỎN MỎN: Ý nói quả địa cầu chúng ta đang sống một ngày một mòn lần đến khi hoại hẳn.

          GIỐNG VI TRÙNG: Từ ngữ nầy chỉ chung các vi sinh vật rất nhỏ bé phải dùng kính hiển vi mới thấy được, thường hay gây bệnh cho con người, như vi khuẩn, nguyên do sinh động vật các nấm. Nghĩa bóng là chỉ cho những người gian tà hung ác hay quậy phá sanh vật và vũ trụ hoặc do thiên tai địa ách, chiến tranh đói đau, khổ nạn đều do tâm và nghiệp của con người gây tạo giờ đây bị trả lại.

          PHƯƠNG THUỐC PHẢI TÌM: Bịnh do vi trùng phá hoại ngũ tạng, phải tìm cho được danh y Thánh dược như Biến thước Hoa Đà. Còn căn còn bịnh do luân hồi quả báo thì phải tìm Đức Phật và chư Bồ Tát rồi thực hành theo lời dạy của các Ngài mới mong kết quả.

          BIẾN THƯỚC: Là tên một vị Thánh Y, Trung Hoa, được mọi người tôn là Thánh Tổ trong nghề làm thuốc, vì ông có tài cải tử huờn sanh. Ông sanh đồng thời với Hiên Viên Huỳnh Đế.

          Thời Đông Châu Liệt Quốc có người tên Trần Hoản tự là Việt Nhân rất thông y học. Ông ngụ tại đất Lư Thông nước Tề nên được người ta gọi là Lư Y. Sau đó Trần Hoản có một quán xá, đối đãi rất tử tế một bậc dị nhân là Trường Tranh Quân. Tranh Quân cảm ơn hậu liền tặng cho Trần Hoản một viên thuốc uống vào thấy được mọi việc xảy ra, dầu tà ma quỉ quái cũng thấy được. Nhờ đó, khi xem mạch Trần Hoản thấy rõ ràng ngũ tạng lục phủ của người bịnh. Ông chữa bịnh được nổi tiếng thêm và sau được người đời tặng cho danh hiệu là Biến Thước tiên sinh, để gọi Trần Hoản cũng như Biến Thước được Trần Hoản tái sanh.

          Trong lúc ông sang chơi bên nước Quắc, gặp Thái tử bên nước ấy ngộ cảm mà chết, được ông cứu sống lại. Nhờ đó Biến Thước (Trần Hoản) nổi danh là một y sĩ cải tử huờn sanh. Chính Biến Thước vào yết kiến vua Tề Hoàn Công đã đoán bịnh ba lần mà vua Tề không nghe theo, quả nhiên sau khi Biến Thước rời khỏi nước Tề, vua Hoàn Công bị bịnh mà băng hà.

          HOA ĐÀ: Ông là người đời Đông Hán ở đất Tiểu quận, nước Bái, tức là nguyên quán. Nổi tiếng làm thầy thuốc, giỏi về thuật châm cứu, lại biết rành về khoa mổ. Trong đời ông đã cứu được nhiều người bịnh nguy ngập.

          Kẻ nào đau trong ngũ tạng, lục phủ khó chữa thì Hoa Đà cho uống một thang “Ma Phế” khiến cho người bịnh mê man như chết, rồi dùng dao bén mổ bụng ra, lấy thuốc rữa tạng phủ mà người bịnh không hề đau đớn. Sau đó, ông lấy thuốc rịt vào và lấy kim vá lại, độ vài mươi hôm hay một tháng người bịnh sẽ khỏi. Chữa bịnh nào, Hoa Đà cũng tỏ ra am hiểu tường tận về căn bịnh ấy sẽ khỏi ngay tức khắc. Nhưng đặc biệt nhứt là khi trị vết thương cho Quan Công, lúc Quan Công vây Phàm Thành, vì không đề phòng bị quân Tào Nhân bắn tên độc trúng cánh tay mặt không cử động được. Hoa Đà xem vết thương xong cho biết: Tên có tẩm thuốc ô dầu rất nguy hiểm, nếu không chữa sớm thì cánh tay sẽ hỏng. Tuy nhiên lối chữa nầy đau đớn lắm, chỉ sợ Tướng công ghê rợn mà thôi.

          -Chữa cách nào mà ghê rợn vậy ?

          -Bây giờ phải tìm chỗ kín đáo, chôn một cây cột thật chắc, phía trên xuyên một vòng sắt lớn để lồng cánh tay Ngài vào đó, dùng giây thừng buộc chân vào cột, lấy cái khăn chùm kín đầu lại. Sau đó, tôi mới dám dùng dao nhọn rạch da, khoét đi chỗ thịt làm độc, gọt thẳng vào chỗ bị bắn, nạo hết chỗ xương ngấm độc, lấy thuốc rịt vào và dùng chỉ khâu lại sẽ khỏi ngay. Quan Công nói:

          -Tưởng gì khó chớ việc như vậy cần gì phải đóng cọc với vòng cho thêm phiền.

          Nói rồi ông sai quân bày tiệc thiết đãi, uống được mấy chén rượu rồi chìa tay cho Hoa Đà mổ. Hoa Đà lại bảo ông hãy lấy khăn che mặt cho khỏi ghê. Quan Công bật cười bảo:

          -Ông cứ tự nhiên!

          Thấy Hoa Đà còn phân vân, Quan Công sai quân hầu bày bàn cờ , mắt chăm chú vào bàn cờ, tay trái đánh cờ, tay mặt đưa cho Hoa Đà mổ một cách tự nhiên.

          Hoa Đà cầm dao thật sắc, sai quân nâng cái chậu lớn ở phía dưới cánh tay để hứng máu, Hoa Đà nhắc lại lần nữa, Quan Công bảo:

          -Cứ việc mổ xẻ tự tiện, mình không phải là hạng tầm thường đâu.

          Hoa Đà đưa mũi dao rạch toạt lằn da bên ngoài, khoét bỏ miếng thịt hỏng, gọt thẳng vào tận xương thì thấy chỗ xương ấy đã xanh xám lại. Hoa Đà đưa dầu lưỡi dao gọt nà nạo mạnh tiếng kêu nghe rởn tóc gáy, mọi người đều xanh mặt không dám nhìn. Nhưng Quan Công vẫn thản nhiên ngồi uống rượu nhắm thịt, dùng tay chỉ bàn cờ và nói tự nhiên như không có chuyện gì xảy ra, mặt không lộ vẻ đau đớn. Một lúc sau máu đầy cả chậu. Hoa Đà đã nạo sạch chỗ xương ngấm độc, liền dùng thuốc rịt chỗ mổ, lấy chỉ khâu lại. Khi làm xong thì Quan Cộng cười và nói to lên với các tướng: Cánh tay ta đã co duỗi được rồi, không còn thấy đau đớn nữa. Ta chưa hề thấy ông thầy thuốc nào giỏi như thế nầy. “Tiên Sinh quả là Thần Y”.

          Hoa Đà vội đáp:

          -Cả đời làm thuốc, tôi chưa thấy ai gan đến thế, Tướng quân quả là Thiên thần. Nói xong, ông để lại cho phương thuốc trị liệu và dặn phải tịnh dưỡng trong 100 ngày thì bịnh sẽ lành hẳn. Nói rồi ông từ giã ra đi, không nhận món gì, dầu Quan Công hết lòng cầm lại.

CHÁNH VĂN

·        233.-Kim với cổ nhìn xem thế-hệ,

·        Sợ có ngày hoạch tội ư thiên.

·        Nẻo đục trong cạn tỏ cơ-huyền,

·        236.-Mực đã cạn lòng yêu chẳng mãn.

·        Ai coi qua xin đừng bỏ lảng,

·        Gắng công-trình vạch lá tìm sâu.

·        Nay dương-trần gặp buổi mưa ngâu,

·        240.-Phải sớm hứng giọt sương Đông-hạ.

·        Điên nhơn-nghĩa điên vì Đạo cả,

·        Thôi chào đời khép cửa buồn duyên.

·        Có thiện-căn sớm lại cửa thiền,

·        244.-Câu niệm Phật chờ ngày chung cuộc.

·                        

·                   Nam-mô Định-Tâm Vương Bồ-Tát Ma-Ha Tát.

·                   Hòa-Hảo, ngày 10-4 năm Canh-Thìn.

 

LƯỢC GIẢI

(Từ câu 233 tới câu 244 và Hết)

          Đoạn giảng trên, Đức Thầy khuyên môn đồ hãy bình tâm xét nghiệm: Hành động con người từ thế hệ xưa đến nay những tấm gương tu thân hành đạo, hư nên tốt xấu mà học đòi hay xa lánh. Nếu không được vậy, e có ngày phạm tội với Trời Đất. Tới đó dầu ta có xin tha thứ cũng khó đặng.

          Những điều đục trong tốt xấu như thế nào, cho đến cơ mầu diệu của Trời Đất, Ngài cũng phân tách một cách sáng tỏ trong bài giảng nầy. Viết đến đây Ngài sắp dừng bút, nhưng lòng thương khắp bá tánh vạn dân vẫn chưa hết.

          Vậy ai có xem qua xin đừng thờ ơ quên lãng mà hãy nghiên cứu xét suy từ chữ để tìm ra lý nghĩa tu hành. Hiện tình, chúng sanh rất may mắn gặp lúc Đức Thầy ra đời mở cơ phổ hóa, ví như đem nước cam lồ tưới mát cho hoa kiểng được tươi nhuận. Vậy chúng ta còn chần chờ chi nữa mà chẳng lo hứng lấy nguồn Giáo lý ấy để làm hành trang trên đường sang đất Phật.

          Đoạn kết của bài “Diệu Pháp Quang Minh”. Ngài nhắc lại danh từ Điên một lần nữa để môn đồ lưu ý. Tuy Điên nhưng Điên vì nền nghĩa nhân Đạo đức chớ chẳng phải là Điên thật. Đó là Ngài muốn đối phương bớt ngờ vực làm trở ngại sự Hoằng Pháp và cũng thức tỉnh số người hay chê bướng chê càng ít chịu suy xét cho thấu đáo.

          Sáng tác đến đây Ngài tạm dừng bút, u buồn cho số phận của mình: Việc Hoằng Pháp lợi sanh còn nhiều trở ngại. Tiếng kêu gọi sau cùng là người có thiện căn thiện chí hãy sớm tỉnh ngộ trở về với gốc lành cội cũ và rán làm lành niệm Phật, tu tâm dưỡng tánh cho đến ngày chung cuộc, để được hưởng cảnh huy hoàng của ngày Thượng nguơn Thánh đức sắp tới đây.

 

CHÚ THÍCH

          KIM CỔ: Xưa và nay. Đây có ý chỉ dạy hành giả phải suy xét cho kỹ chuyện thời xưa và hiện nay để lập thân hành đạo. Như Ngài thường kêu gọi:

                   “Đời phải biết suy kim luận cổ,

                   Thông cơ đồ dựng nghiệp Thánh Hiền”.

          THẾ HỆ: Thế là đời; Hệ là một hệ thống có quan hệ với nhau. Nghĩa chung là thời cùng một số tuổi ngang nhau, như thế hệ cha hay thế hệ con cháu hoặc là số người và sinh vật sống trong một thời hay trong giai đoạn từ xưa đến nay.

          HOẠCH TỘI Ư THIÊN: Xuất phát từ câu Tục ngữ của chư Phật Thánh: “Hoạch tội ư thiên nhi thiện đảo giả”.( Đã phạm tội với Trời Đất, dầu có cầu xin cũng khó được).

          NẺO ĐỤC TRONG: Hai con đường, một đi vào chỗ nhơ xấu tội lỗi. Hai, con đường đi đến chỗ trong sạch chơn chánh thanh khiết. (Đường tà nẻo chánh).

                   “Chọn bến nước rủi may trong đục,

                     Nếu chần chờ lục đục trễ chơn”.

          CẠN TỎ CƠ HUYỀN: Cạn tỏ là bày nói rõ, rất rõ ràng. Cơ huyền: Việc cao sâu mầu diệu trong bộ máy tạo hóa. Hiểu chung hết câu có nghĩa: Từ việc đục trong hư nên tốt xấu cho đến thiên cơ đạo lý, Đức Giáo Chủ cũng nói hết cho chúng sanh rõ:

                    “Việc Thiên cơ Khùng tỏ hết trơn,

                     Cho trần hạ tường nơi lao lý”.

          MỰC ĐÃ CẠN: Bình mực đã hết và cạn. Ý nói Đức Thầy viết bài Giảng đến đây sắp dừng bút.

          LÒNG YÊU CHẲNG MÃN: Tâm thương xót chúng sanh để ban vui cứu khổ cho muôn loài lúc nào cũng chứa chan không hết, không nản lòng thối chí:

                “Lòng yêu sanh chúng luân chuyển kiếp,

                   Dạ ái dương trần đổi xác thân”.   

          BỎ LÃNG: Quên lãng, bỏ qua không siêng năng với công việc đang làm. Ở đây nói đến việc tu hành đạo đức.

          VẠCH LÁ TÌM SÂU: Vạch là cành trong thân cây đã trồng để bắt sâu bọ ra. Có 2 nghĩa: 1.- Như làm rẫy, hoa, kiểng phải bắt hay diệt hết sâu bọ rầy mò mới kết quả. 2.- Những phiền não vọng tâm hay quậy phá tâm trí ta, khiến tu lâu thành Đạo. Cho nên Đức Thầy bảo mỗi hành giả nên nhìn kỹ vào tâm mình để lọc hết vô minh phiền não ra. Và phải cố gắng siêng năng thật hành, không nên nản lòng thối chí.

          Đức Giáo Chủ thường nhắc nhở:

                    “Lúc làm rẫy rủi nhiều sâu bọ,

                   Rồi ngẩn ngơ bỏ giống hay sao ?”

          Nên Ngài thường khuyến khích:

                   “Giết cho sạch những loài sâu bọ,

                    Giống hại người lúc bỏ rẫy trồng”.

          Nếu chúng ta siêng năng kỹ lưỡng việc tu thì ắt đặng: “Huệ tâm khai ngữ chuyển huyền thông”.

          MƯA NGÂU: (Xem CT trong các bài trước).

          GIỌT SƯƠNG ĐÔNG HẠ: Giọt sương của giữa mùa Đông và mùa Hạ rất mát mẻ như nước cam lồ, nên dụ cho nguồn Giáo Lý của Phật Pháp. Cũng ví như các nhà nông gọi các mùa lúa Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông. Vậy chữ Đông Hạ là giữ mùa Xuân và mùa Hè (Hạ). Còn mùa Thu ngày rắm tháng 8 chính là giữa mùa Thu. Ngày Đức Giáo Chủ bắt đầu viết Sấm Giảng Kệ Kinh, mùa Thu có mưa phùn mát mẻ, do điển tích mưa Ngâu (Ngưu Lang Chức Nữ trùng phùng nhau). Cho nên trong giáo lý PGHH chỉ mùa Thu có nguốn mưa pháp như nước cam lồ tưới cho các gốc lành (Thiện căn) được sum sê nẩy nở. Như Đức Thầy từng cho biết:

“Giảng nầy ra cuối mùa Thu,

Dạy ăn dạy ở chữ tu vuông tròn”.

          Và: “Đến trung tuần tháng tám Ta cùng Đức Thầy mới tá hiệu Khùng Đìen mượn bút mực tiết lộ lấy thiên cơ truyền cho kẻ xa gần đều rõ biết hầu ăn năn cải hóa làm lành..”.

          BUỒN DUYÊN: U buồn cho số phận của riêng mình. Lúc mới ra đời phổ hóa chúng sanh chưa được hanh thông lắm. Đức Thầy lại phải lâm vòng Pháp nạn, khiến cho người tu gặp nhiều trở ngại

          THIỆN CĂN: Căn lành (Xem thêm CT chữ Căn lành trong STTĐ trang 435, tập 1, cột 2).

          CỬA THIỀN: Cửa Đạo. Ý chỉ cho đạo Phật.

          NIỆM PHẬT: Niệm sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Ý chỉ khuyên người lo niệm Phật làm lành (tu theo Tịnh Độ Tông). Chuyên lo làm lành niệm Phật để cầu Đức Phật A Di Đà tiếp độ linh hồn mình cùng người sang cảnh giới an lành trong sạch (Cực Lạc) của Ngài. Đây ý khuyên mọi người lúc nào cũng giữ tâm tinh tấn Niệm Phật và làm lành, để tiến đến chỗ trọn lành trọn sáng.

          CHUNG CUỘC: Kết cuộc (mãn tuồng). Nghĩa bóng là Đức Giáo Chủ khuyên môn đồ Phật Tử nên ẩn nhẫn niệm Phật làm lành cho đến ngày chung cuộc sẽ biết ai còn ai mất.

          NAM MÔ ĐỊNH TÂM VƯƠNG BỒ TÁT MA HA TÁT: Đây là danh hiệu của vị Bồ Tát Đẳng Giác đã có đại nguyện để cứu độ chúng sanh nhiều đời nhiều kiếp. Ngài có thệ nguyện giúp cho các hành giả, trước khi sáng tác hay đọc tụng Kinh giảng nên niệm đến danh hiệu của Ngài thì Ngài sẽ giúp cho tâm tánh an định, nội ma phiền não đều tan biến vượt qua các chướng ngại cản ngăn thử thách.

          Do đó, khi sáng tác xong bài “Diệu Pháp Quang Minh” chính Đức Thầy niệm danh hiệu của Bồ Tát Định Tâm Vương và Ngài cũng có dụng ý cho tín đồ hành theo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn

Nhập những từ trong hình vào ô bên dướiNhập những số nghe được vào ô bên dưới