CHÁNH VĂN (Từ câu 65 tới câu 132)

21 Tháng Mười 200812:00 SA(Xem: 23802)

Mài gươm trí cho tinh cho khiết,

Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.

Đức Di-Đà Phật-Tổ ngóng trông,

Chờ dân-chúng tìm nơi diệt khổ.

Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,

Gốc ông cha ta cũng tu-hành.

Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,

Danh với lợi, của tiền, quyền tước.

Thấy trần-thế ai ai cũng ước,

Đời sao không tới phứt cho rồi.

Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,

Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn.

Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,

Như gà cồ ăn bẩn cối xay.

Thấy người hiền nói đắng nói cay,

Sau mới biết thân ai lao khổ.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 65 tới câu 80)

          -Sự tu trước nhứt cần trau giồi trí huệ cho tinh minh, để dùng nó diệt trừ các vọng tâm ô nhiễm trần tục, và tánh phân biệt câu chấp bản ngã. Nghĩa là không nên chấp có chấp không hoặc chấp thường chấp đoạn mới đạt được lý chơn không và kiến diện Chơn Như thật tướng. Đức Thầy còn cho biết Đức A Di Đà cùng Đức Phật Tổ, lúc nào cũng mong chờ dân chúng biết tìm con đường thoái khổ.

          -Từ xưa, qua các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần…

Ông cha ta đã sùng ngưỡng và phụng hành theo Phật giáo, cũng đã có nhiều vị tu hành chứng quả. Ngày nay, con cháu lại không noi chí Tổ tiên, mãi lo giành giựt lợi danh, quyền tước, gây nên chướng nghiệp, rồi phải chịu luân hồi sanh tử.

          -Thông bịnh của người đời, hễ có gặp tai nạn khổ sầu, thì ai cũng mong ước cho đời mau tới; bởi hiện giờ không chịu nỗi với cảnh lầm than nghèo đói.

          -Còn những kẻ hành động hung ác, sớm muộn gì họ cũng gặt lấy quả đau khổ. Cũng như con gà ăn gạo chung quanh cối xay, chẳng bao lâu phải giáp lại chỗ cũ. Lại nữa, kẻ không ưa Đạo đức, thường dùng đủ lời đắng cay châm biếm người tu, họ có ngờ đâu, sau nầy phải vương mang khổ quả:“ Đừng ham nói đắng nói cay, Cay đắng sau nầy đau đớn sầu bi”.(Sấm Giảng Q.1)

 

CHÚ THÍCH

          MÀI GƯƠM TRÍ = Trau giồi trí huệ. Có nhiều cách mài luyện như:“Tùng, văn tư tu”, hoặc hành trì tam học: Giới, định, huệ; hay điêu luyện khối tinh thần cho cứng mạnh, để vẹt phá vô minh phiền não, tức trí huệ hiện bày.

          Sở dĩ ví trí huệ như lưỡi gươm (kiếm) là vì nó có đủ diệu năng, chặt đứt cội phiền não (tham sân si) và giết trừ Thập Tam Ma (thất tình lục dục) Đức Thầy đã nói:“Thập Tam ma diệt bằng trí kiếm”.(Sấm Giảng Q.1) Hoặc là:“Kiếm huệ phi tiêu đoàn chướng nghiệp”.(Khuyến Thiện Q.5)

          TINH KHIẾT: Trong sạch, sáng suốt.

          TÂM TRẦN: Lòng dơ bẩn. Ý nói lòng còn ô nhiễm chứa chấp việc trần tục, nhơ xấu danh , lợi, tình.v.v…

          SẮC KHÔNG: Sắc đây là nói hoạn sắc (có), bởi thể của nó vốn là chơn không; cho nên sắc chẳng khác gì không. Vả lại, từ cái chơn không hiện ra các cảnh vật (hoạn sắc), cho nên không chẳng khác gì sắc. Tuy nói là chẳng khác; nhưng hai tiếng của không và sắc vẫn còn. Để khỏi thiên chấp, trong “Tâm Kinh”, Phật có nói:“Sắc tức thị không, không tức thị sắc, sắc bất dị không, không bất dị sắc”.(Hoạn sắc tức là chơn không, chơn không tức là hoạn ssắc; sắc chẳng khác nào không, không chẳng khác nào sắc). Nghĩa là nói ngoài các hoạn sắc không có cái chơn không, mà ngoài cái chơn không cũng không có các hoạn sắc (cảnh vật hữu vị).

          Khi ngộ được lý “sắc không”, Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói:

                   Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông,

                     Hữu hữu vô vô tất kính đồng.

                     Phiền não bồ đề nguyên bất nhị,

                     Chân như vọng niệm tổng giai không.

                     Thân như huyễn cảnh, nghiệp như ảnh,

                     Tâm nhược thanh phong, tính nhược bồng.

                     Hựu vấn tử sinh ma dữ Phật,

                     Chúng tinh củng Bắc thủy triều Đông”.

          -Như thế, sắc chất và chân không cũng chỉ là một tâm thể như sóng và nước. Vậy câu “kiếm chữ sắc không” là nói thấu đạt cái “bản thể chơn như thật tướng” của chính mình, Đức Thầy từng dạy:“Hãy tìm kiếm cái không mới có”.(Kệ Dân, Q.2) Và:“Sắc không, không sắc chớ lìa xa”.(Tỉnh bạn Trần gian)

          PHẬT GIÁO: (Xem CT câu 153, T-2, Q.2)

          QUANH QUẨN: Luẩn quẩn, vòng quanh rồi trở lại nơi cũ.

          GÀ CỒ ĂN QUẨN CỐI XAY: Con gà ăn chung quanh cái cối xay lúa (xay tay), giáp vòng cũng gặp lại mối đầu. Ý nói kẻ làm ác, sớm muộn gì cũng bị cũng bị quả dữ trả lại (ác lai ác báo)

 

CHÁNH VĂN

81.-Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,

Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.

Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,

84.-Tìm đạo-lý hiến cho trần-thế.

Hiệu Lão-Sĩ ra đời thật-tế,

Đem lời vàng dạy-dỗ dương-trần.

Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,

88.-Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ Khổ. 

Bịnh với Tử từ kim chí cổ,

Sanh với Già hai chữ hoài-hoài.

Đức Thích-Ca xưa ở lầu đài,

92.-Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Đạo.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 81 đến câu 92)

          -Lúc Đức Thích Ca ngồi tham thiền tại gốc Bồ Đề, Ma Vương sợ Ngài đắc Đạo rồi không còn ai theo bọn chúng, nên đem binh ma, khí giới và nữ sắc đến phá hại Phật; nhưng bị Phật dùng phép thần thông đối trị và hàng phục, khiến chúng khiếp sợ, không dám đến phá nữa. Bởi lòng từ bi rộng lớn, nên lúc còn là Thái tử; Ngài đành lìa bỏ cung vàng, vợ đẹp, băng mình vào rừng sâu, núi tuyết để tìm ra chơn lý nhiệm mầu, cứu độ chúng sanh.

          -Nay Đức Giáo Chủ PGHH ra đời, cũng đem giáo lý thật tế ấy dạy dỗ quần sanh. Bắt đầu từ pháp “Tứ Diệu Đề, Bát chánh Đạo”, nếu chúng sanh nào biết giác ngộ tu hành; sớm khuya cần mẫn, diệt trừ các vọng tâm phiền não. Vì chính nó là nguồn gốc của bốn nỗi khổ: sanh, già, bịnh, chết.

          -Thêm nữa, mỗi chúng sanh từ vô minh vọng niệm, tạo nghiệp sanh tử luân hồi. Khi thần thức nhập vào bào thai của người mẹ, là bắt đầu chịu khổ cho đến lúc chào đời; kế đó là cái khổ của sự già, rồi trải qua bao cơn bệnh tật hoành hành, đau nhức, tiếp nối là cái khổ về sự chết diễn ra. Nhưng chết đi chưa phải là hết mà còn sanh trở lại, cứ thế rồi tiếp tục xoay vần, chịu khổ mãi mãi. Xưa kia Thái Tử Sĩ Đạt Ta, cũng nhờ nghiệm xét bốn nỗi khổ ấy, mà Ngài xuất gia tầm Đạo giải thoát.

 

CHÚ THÍCH

          OAI LINH: Oai là dáng vẻ tôn nghiêm; linh là phần diệu của tinh thần. Nói chung chữ oai linh người ta thường dùng để tôn xưng các đấng cao cả, có đầy đủ đức tướng và thần thông linh diệu.

          PHÉP THẦN THÔNG: Phép linh diệu vô ngại, không chi liệu lường ngăn trở nổi. Nhà tu Phật khi diệt sạch phiền não, lục căn thanh tịnh thì chứng được sáu pháp thần thông (Nhân căn trần thanh tịnh nhi đắc lục thông thị hiện giả dã). Ở đây chỉ lúc Đức Thích Ca tịnh tọa dưới gốc Bồ đề, bọn Ma vương đến quấy nhiễu, Ngài dùng phép thần thông hàng phục chúng nó.

          Đức Thầy thường cho biết:

                   Đạo gần đắc Ma vương theo khuấy,

                Dùng thần thông nghị lực dẹp tan”.(K/thiện, Q.5)

            MA VƯƠNG:(Xem CT đoạn 5, T-1, Bài Sứ mạng)

          RỪNG TÒNG: Do chữ “tòng lâm”. Cũng gọi là rừng thông. Đây chỉ khu rừng “Ưu Lâu Tần Loa”, phía Nam núi Tượng đầu, gần bờ sông “Ni Liên thiền”, nơi Thái tử Sĩ Đạt Ta tu khổ hạnh (khổ hạnh lâm).

          LÃO SĨ: Lão là bậc già cả, Sĩ là nhà tu hành chứng Đạo. Tiếng tôn trọng bậc tu hành cao tuổi và đầy đủ hạnh phúc. Đây là một trong nhiều danh xưng của Đức Thầy:“Lánh thế chẳng bày danh Lão sĩ”.(Cho Ô. Tham tá Ngà)

            THẬT TẾ: Cũng viết là chơn tế, chơn thật tế, tức là chỉ cái chơn lý thực thể, cái lý tối cực hoàn toàn, phương diệu tuyệt đích. Thật tế cũng gọi là “Chơn như thật tướng”, Cổ Đức từng bảo:

                   Thật tế lý địa, Bất thọ nhứt trần

                     Vạn hạnh môn trung, Bất xả nhất pháp”.

          (Về cái tánh thanh tịnh thì không dính dấp một mảy trần; nhưng phần hạnh tướng tu hành thì chẳng bỏ một pháp lành nào cả).

          TÌM NGUỒN CỘI DIỆT TRỪ TỨ KHỔ: Tứ khổ là bốn điều khổ lớn: Sanh, Già, Bịnh, Chết. Đó là định luật: Hễ có sanh ra xác thân, tất phải có già, bịnh, chết; không một chúng sanh nào thoát khỏi.

          Xưa, Đức Phật thường dạy:“Nầy các Tỳ Kheo ! các ngươi đừng thắc mắc về vấn đề thế giới nầy là hữu cùng hay vô cùng, hữu hạn hay vô hạn. Dù thế giới nầy có hữu hạn, hữu cùng hay vô hạn, vô cùng; điều mà chúng ta nên nhận xét cái thật có trong đời là khổ sầu và “sanh, lão, bịnh, tử”.

          Ngày nay, Đức Giáo Chủ khuyên:“Tìm nguồn cội diệt trừ tứ khổ”. Xét ra xác thân là gốc khổ (khổ đề) mà hột giống (nguồn cội) của nó là vọng tâm phiền não (tập đề).

          Thuở Đức Phật còn trụ thế, có bốn Tỳ Kheo cùng đang tu học. Một hôm họ ngồi lại bàn luận về các sự khổ:

          Tỳ Kheo thứ nhứt nói:

          - Tôi nghĩ trong đời chỉ có sự sợ hãi là khổ hơn hết, vì cái tâm ấy khởi lên thì không thể nào yên lòng được.

          Ý kiến của vị thứ nhì:

          - Tôi nghĩ, trong đời chỉ có sự đói khát là khổ hơn cả, bởi đói thì phải lo tạo tác cho có cơm ăn áo mặc, đâu yên tâm hành đạo được.

          Tỳ Kheo thứ ba trình bày:

          - Theo tôi, thì sự nóng giận là khổ hơn hết, vì cái tâm ấy khởi lên làm mất hết trí khôn, bất luận kẻ thân người sơ đều bị mình làm thiệt hại, gây ra tội khổ không ít.

          Tỳ Kheo thứ tư nói:

          - Riêng tôi, không chi khổ bằng sự dâm dục, chính nó là hột giống sanh tử, suốt đời con người đem thân làm tôi mọi cho nó, đi đến chỗ hư thân mất nết, mờ đục cả trí huệ.

          Trong lúc 4 Tỳ Kheo đang tranh luận, ai cũng cho chỗ nhận xét của mình là đúng, may đâu Đức Phật vừa đi tới, bốn người đồng lễ Phật và nhờ Ngài phân giải !

          Phật ôn tồn bảo:

          - Các ngươi luận đều phải cả, song chỉ biết được ngọn ngành của sự khổ, chớ chưa thấy tận nguồn gốc của nó. Gốc khổ là do xác thân, tại có thân nầy mới có lòng tham dục, nóng giận, đói khát và hãi sợ…Nếu thân nầy chẳng có, lấy đâu mà có bốn sự khổ kia. Cho nên muôn sự phiền, ngàn sự khổ đều dồn chứa vào xác thân. Song nguyên nhân chánh là do vọng tâm, bởi có vọng tâm phiền não mới sanh ra xác thân để rồi chịu khổ. Vậy các ngươi muốn hết khổ nên diệt ngay vọng tâm phiền não.

          Nghe Phật giảng xong, bốn Tỳ Kheo rất vui mừng, đồng lễ bái Phật.

          Để xác định lý trên, Kinh xưa có những câu kệ:

                   “…Tội tùng tâm sanh, tùng tâm diệt,

                     Tâm diệt nhược thời tội diệt vong

                     Tội vong, tâm diệt lưỡng câu không”.

          Tạm dịch:

                   -Tội khổ vốn do tâm phát khởi

                    Tâm chẳng sanh, tội chẳng hề sanh

                    Tội tâm không một niệm sanh

                    Chơn không thị hiện Đạo lành đạt thông.

          HOÀI HOÀI: Luôn luôn, mãi mãi không dừng. Ý nói hết kiếp nầy sang kiếp khác “Tử sanh già bịnh đáo đầu tử sanh”.

          ĐỨC THÍCH CA: (Xem CT câu 390, T-2, Q.2).

 

CHÁNH VĂN

93.-Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,

Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.

Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,

96.-Hương với Vị xác trần nên lánh.

Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền Thánh,

Tránh Sáu Đường cũng đặng về Thần.

Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,

100.-Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.

 

LƯỢC GIẢI (từ câu 93 tới câu 100)

          -Bổn phận người tu cứ lo trau thân sửa tánh, dầu cho ai có nhạo chê phỉ báng cũng mặc, nhứt là phải làm chủ sáu căn, đừng cho ô nhiễm sáu trần. Mắt đối với các sắc đẹp hay các màu sắc khác, chẳng để tâm cảm nhiễm. Tai nghe các tiếng đờn hát, âm thanh trầm bổng, những tiếng đường mật vỗ về, lòng không để say đắm. Mũi ngửi các mùi thơm dịu không ưa thích. Lưỡi nếm những vị ngon, vật béo chẳng thèm khát. Thân đối với các vật trơn láng mịn màng cũng đừng cảm nhiễm. Ý đối vạn pháp hữu hình hay vô hình đều giữ tâm trong sạch, không hề vướng mắc một pháp nào.

          -Người hành Đạo hãy noi gương những bậc Hiền Thánh, tuy còn phải dùng chút ít vật chất, để nuôi thân hành Đạo; nhưng tâm không còn ô nghiễm, vướng mắc sáu trần. Ấy là sáu căn được thanh tịnh và đặng chứng quả Phật Thần, bằng như các phiền não vi tế chưa trừ sạch cũng được về bực Tiên Thần. Đức Thầy còn cho biết: xưa nay, Ngài đã có nhiều lần dùng Kinh pháp chỉ dạy chúng sanh, nhưng ít có người lo liệu tu thân lập hạnh.

 

CHÚ THÍCH

          LỤC CĂN: Sáu căn trong thân con người là: Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý. (Mắt, tai, mũi, lưỡi, xác thân và tâm ý).

          LỤC TRẦN: Sáu cảnh trần, tức là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Trong sáu trần nầy, mỗi món chia làm hai loại:

          -Sắc Trần: Sắc có năng lực làm ô nhiễm thân tâm, nên gọi là sắc trần, gồm có hai thứ:

          1/- Hiển sắc: Sắc tô vẻ ra các màu: vàng, đỏ, xanh, trắng…Không có sắc chất, nhưng nương theo vật mà hiện ra.

          2/- Đối sắc: Sắc có chất, như sắc người và các vật: cứng, mềm, khô, ướt…xem thấy, cầm nắm được.

          -Thinh Trần: Các thứ tiếng có năng lực khiến thân tâm ưa thích, ô nhiễm. Tiếng có hai thứ:

          1/- Tiếng cảnh trực: các tiếng thuộc về vô tình, như: sấm sét, gió, nước, đờn sáo…

          2/-Tiếng khuất khúc: các thứ tiếng thuộc về hữu tình như: nói, kêu, ca hát…

          -Hương Trần: Các mùi thơm, thúi có năng lực khiến thân tâm ô nhiễm. Mùi hương có hai thứ:

          1/- Mùi thúi, như: xác chết, cây mục, phân người và thú.

          2/- Mùi thơm, gồm ba loại: hoa hương, thọ hương và tâm hương.

          -Vị Trần: Những vật có năng lực làm cho người ưa nhiễm. Vị cũng có hai thứ:

          1/- Vị không phải thức ăn, nên người ta không ưa thích, nhưng có thể làm thuốc được.

          2/- Vị thường dùng ăn uống đặng và người ta rất ưa thích, như ngũ vị: mặn, ngọt, chua, cay, đắng.

          -Xúc Trần: Những vật có năng lực làm mê hoặc thất tình, nhiễm ô chân tánh; xúc gồm có 2 thứ:

          1/- Xúc khổ: làm cho đau đớn, nóng, lạnh, đói, chết, buồn, khổ.

          2/- Xúc lạc: làm cho thân tâm vui, chịu, nên ưa thích va chạm.

          -Pháp Trần: Các pháp có năng lực khiến tâm trí ô nhiễm. Pháp cũng có hai thứ:

          1/- Sắc pháp: gồm có thiên nhiên và nhân tạo.

          2/- Tâm pháp: gồm có thiện pháp và ác pháp.

          HIỀN: Phạn ngữ (Scr) là Bhadra có nghĩa người tu học các điều lành, có tài đức phẩm hạnh tốt đẹp. Bậc hiền là chỉ cho các vị đang tu tập, đoạn trừ các phiền não, mê hoặc. Đức Thầy có câu:“Lẫn tục đừng mê chứng bậc Hiền”.(Luận việc tu hành)

          THÁNH: Phạn ngữ (Scr) là Arya, phiên âm là A ly Da hay A Lê Du, dịch là Thánh nhơn, có nghĩa chơn thật, chánh trực và thanh tịnh. Thánh nhơn có hai bực: Thánh thế gian và Thánh xuất thế gian. (Thánh thế gian là bậc trọn lành , thông suốt Đạo lý thấu rõ việc trời đất và tính tình muôn vật. Kinh Dịch có nói:“ Đức của Thánh nhơn sánh cùng Trời đất, sánh bằng Nhựt nguyệt, biết rõ thời tiết, kiết hung”.- Còn Thánh xuất Thế gian là chỉ…cho bậc tu hành đã chứng quả Phật.) Đây chỉ cho bực Thánh xuất thế gian, tức là hạng tu đắc Đạo, có đủ trí huệ và các pháp thần thông dứt khổ não luân hồi. Từ các bậc chứng quả A La Hán, Duyên Giác, Bồ Tát cho đến Phật Như Lai đều là bậc Thánh.

          Các Kinh điển cũng thường gọi là bực Tu Đà Hườn, Tu Đà Hàm, A Na Hàm, đến A La Hán là Thánh (Tứ Thánh Thinh Văn). Người ta cũng dùng tiếng Thánh để tôn xưng Phật như: Thánh ngôn, Thánh triết. Thánh còn là danh từ để đối với phàm. Đức Thầy từng bảo:“Cư trần bất nhiễm là người Thánh”.(Luận việc Tu hành)

          THẦN: Bậc khác hơn thế tục, lượng xét không cùng tột, linh diệu, oai mãnh, thông suốt không bị chướng ngại. Là bực bá tánh thường tôn trọng kính nhờ. Cho nên người ta cũng gọi đấng Phạm Thiên, Đế Thích và Đức Phật là bậc Thần. Vậy Thần có bốn bực: Phật Thần, Tiên Thần, Thánh Thần và A Tu La Thần (quỉ Thần); nhưng chữ Thần ở đây là chỉ cho bậc Phật Thần hay Tiên Thần. Đức Thầy có viết:“Cha là Phật Thánh Tiên Thần phước dư”.(Cảm tác)

 

CHÁNH VĂN

101.-Nhãn thấy sắc thường hay bận-bịu,

Tai ưa nghe những điệu âm thinh.

Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,

104.-Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.

Đồ thơm tho nó ưa nó chịu,

Chốn xạ hương hay lết lại gần.

Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,

108.-Đồ ngọt béo nó ưa nó mến.

Thân tham sướng muốn tiền của đến,

Đặng ăn xài cho phỉ tấm tình.

Ý thì ưa sửa sắc soi hình,

112.-Với chức phận cho cao cho quí.

Sáu đường ấy ở trong tâm ý,

Ta mau mau dứt nó cho rồi.

Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,

116.-Mượn trí-đạo đuổi ra khỏi xác.

Dứt được nó ấy là giải thoát,

118.-Thì xác trần mới khỏi đọa-đày.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 101 đến câu 118)

          -Đoạn giảng trên Đức Thầy diễn tả sáu căn ô nhiễm sáu trần và phương cách diệt trừ.

          Trước nhứt là cặp mắt của con người hễ thấy các sắc đẹp măng búp yêu kiều, son phấn lả lơi thì ước mơ quyến luyến. Tai lại thích nghe những lời đường mật véo von, những giọng đờn, sáo, hát ca trầm bổng. Mắt và tai vốn là hai căn bén nhạy nhứt, khiến lòng người đắm nhiễm sắc lịch, tiếng hay. Đến như lỗ mũi thì ưa ngửi các thứ hương xông, xạ ướp, những mùi dầu mỡ tẩm dầm; khiến con người lân la mê mẩn mãi, khó mà rời rứt được.

          -Phần cái lưỡi hay cảm nhiễm các món ngon vật béo, mùi vị hăng nồng. Còn thân thì lúc nào cũng ham sống cảnh giàu sang sung sướng, tiền của lụa là, muốn nghỉ giường cao nệm ấm và va chạm những vật trơn láng mịn màng.

          -Đến cái ý thì không vật chi mà nó chẳng ưa thích: nào trau dạng sửa hình, chưng diện cửa nhà y phục; nào chức tước, bạc vàng, oai danh lừng lẫy. Nên biết, sáu cửa của lục căn, tiếp nhiễm lục trần vừa kể trên, là dưới sự sai khiến của vọng tâm phân biệt. Bởi cái ý phân biệt tham chấp đó, là chủ đề của các căn, nên Đức Thầy dạy chúng ta hãy sớm trừ ngay nó.

          -Nếu chúng sanh nào thức tỉnh tu hành, biết dùng trí huệ giám thị và điều khiển lục căn, đừng cho ô nhiễm lục trần, tức hành giả đặng tự tại giải thoát, thân tâm không còn bị đọa đày trong luân hồi khổ nạn.

 

CHÚ THÍCH

          BẬN BỊU: Vướng víu về tình cảm với sắc đẹp, lòng muốn rứt bỏ, nhưng khó xa rời được.

          XẠ HƯƠNG: Chất xạ lấy nơi rún (rốn) của vài loại thú rừng, như: Hươu hoặc chồn, mùi rất thơm, quí; dùng làm thuốc trị bịnh. Ví dụ: Hương thơm xạ ướp. Đây chỉ các mùi thơm của hương trầm.

          SÁU ĐƯỜNG ẤY Ở TRONG TÂM Ý = Sáu đường ấy là sáu ngõ (cửa) của lục căn tiếp xúc với lục trần vừa giải trên. Trong tâm ý, là vì: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là năm cửa và dưới quyền điều khiển của tâm ý. Tâm ý vốn ở bên trong, ví dụ như ông chủ nhà, còn năm căn kia, ví như năm cửa bên ngoài, hễ tâm ý vọng thì năm trần cảnh: sắc, thinh, hương, vị, xúc, theo năm cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà vào nhà. Ấy gọi là sáu căn ô nghiễm sáu trần. Nhược bằng tâm ý chơn thì năm căn không tiếp xúc năm trần, tức lục căn thanh tịnh mà thành Đạo giải thoát.

          Xưa, Đức Tam Tổ có nói:

                   “Dục thủ nhứt thừa, Vật ố lục trần,

                   Lục trần bất ố, Hườn đồng chánh giác”.

            (Muốn chứng đặng bực nhứt thừa, thời đừng đắm nhiễm sáu trần, nếu sáu trần không nhiễm đắm thì đồng với bực chánh giác).

          Trong Kinh Tạp A Hàm có chép:

          Thuở xa xưa về trước, gần bên bờ ao, cỏ mọc um tùm, có một con rùa, ẩn náu nơi đó đã lâu năm. Hằng ngày nó bò ra khỏi hang, đi kiếm ăn.

          Hôm nọ, có con Giả Can (một loại với chồn và chó sói) đi quanh đó. Trong lúc đói bụng, đang rảo bước kiếm mồi, nó chợt thấy con rùa bên bờ nước, lòng vui mừng vô hạn, chắc rằng sẽ được một bữa ăn ngon lành. Nó chạy nhanh lại, toan bắt rùa mà ăn. Khi thấy con Giả Can chạy tới, chú rùa biết sắp lâm nguy, không tài nào bò trốn kịp, nên thủ thế trước. Nó nằm yên thu mình vào trong vỏ cứng, chẳng để hở một phần nào.

          Giả Can, hết lật con rùa qua bên nầy, rồi lật rùa qua bên kia, ý chừng tìm chỗ có thịt mà cắn. Nó cắn cái vỏ thì vỏ rùa cứng quá cạp không được. Nó đành để yên, ngồi đó đợi cho khi nào rùa ló đầu đuôi ra mà cắn, nhưng rùa rất khôn ngoan, càng rúc đầu, đuôi và bốn chân vào trong vỏ hơn trước.

          Đợi mãi rùa không ló đầu, ló chân ra, phần mệt mỏi, phần bụng đói, bức bách, Giả Can liệu ở đó mãi cũng vô ích, nên bỏ rùa đi kiếm mồi khác.

          Nhờ đó, rùa được khỏi chết.

          Khi kể xong câu truyện trên, Đức Phật khuyên các Tỳ Kheo:

          “Các ngươi nên biết: Thiên Ma Ba tuần, thường rình rập bên các người, nó muốn cho mắt các ngươi nhiễm sắc, tai các ngươi thích nghe tiếng, mũi các ngươi ưa ngửi hương, lưỡi các ngươi thích nếm vị, thân các ngươi muốn cọ xát những chất trơn láng. Ý các ngươi luôn vọng tưởng. Nghĩa là nó muốn các ngươi nhiễm trước lục trần. Thế nên các ngươi hằng ngày hãy giữ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý luôn luôn trong giới luật thì ác Ma ba Tuần không làm chi được. Cũng như con Giả Can kia, không làm gì hại được rùa”.

          Nếu mỗi người tu hành đều giữ mình được như chú rùa, không để lục căn duyên nhiễm theo lục trần thì lo gì Đạo quả chẳng viên thành.

          Tấm gương của chú rùa thật là một bài học quí giá, xứng đáng cho người sau ghi nhớ.

          TỈNH TÂM: (Xem CT câu 230, T-1, Q.1).

          TRÍ ĐẠO: Trí sáng suốt diệu huyền, đắc nhập chơn lý (Đạo). Cũng gọi là chơn trí, có diệu năng đoạn trừ vọng tâm phiền não, làm cho sáu căn thanh tịnh, không còn ô nhiễm sáu trần.

          GIẢI THOÁT: Giải, do Phạn ngữ (Scr) Moksha, phiên âm là Mộc đề hay Mộc xoa, dịch là Giải. Có nghĩa lìa khỏi sự trói buộc của hoặc nghiệp phiền não. Thoát, là ra ngoài tam giới: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. Vậy, giải thoát là cởi mở sự trói buộc của nghiệp luân hồi sanh tử, chứng đắc từ quả thánh A La Hán lên Duyên Giác, Bồ Tát và Phật. Cho nên chữ Giải thoát đồng nghĩa với chữ Niết Bàn (bất sanh bất diệt). Đức Thầy từng dạy:“Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc đạo an bần xả thân tu tỉnh”.(Bát chánh: Chánh Tư Duy)

          ĐỌA ĐÀY: Cũng viết là đày đọa. Có nghĩa bắt làm việc nặng nhọc và đối đãi khắc khổ. Đây ý nói sự thèm khát đòi hỏi của lục căn, làm cho thân tâm con người, phải gian nan khổ sở.

 

CHÁNH VĂN

119.-Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,

Hãy yên lặng bình tâm suy-nghĩ.

121.-Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,

Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.

Vậy mới là phải bực công-bình,

124.-Nẻo chánh-trực chí người quân-tử.

Người biết Đạo phải gìn ngôn ngữ,

Nói với ai chớ có sai lời.

Trọng mẹ cha kính nể Phật-Trời,

128.-Đừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.

Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,

Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.

Ta Khùng Điên nói đại nói càn,

132.-Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.

 

LƯỢC GIẢI (Từ câu 119 tới câu 132)

          -Đức Giáo Chủ kêu gọi trong giới trí tài nên lặng tâm suy nghĩ lời giáo huấn của Ngài và trước khi đứng ra xử thế, mỗi người cần phải tu thân xử kỷ. Lời dạy trong đây đồng với thuyết “Chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Đức Khổng Tử. Phận làm người trước hết phải lo tu trị bản thân, rồi sẽ sửa dạy người khác. Được thế, mới đúng với lẽ công bằng ngay chánh và xứng đáng là bậc hiền nhân quân tử.

          -Kẻ tu học Đạo pháp lúc nào cũng cẩn trọng lời nói, khi muốn thốt ra điều gì, cần suy nghĩ chín chắn, nếu thấy đúng với lẽ phải và có lợi cho Đạo đức mới nói. Bằng không, thà nín thinh càng tốt; và nên chừa hẳn những tiếng xảo ngôn thất tín. Đối với cha mẹ cần có hiếu thảo, mỗi khi thưa hỏi điều chi, nên dùng lời lẽ dịu dàng lễ độ. Đầy lòng tôn kính Phật Trời và các bậc Thần Thánh, không nên nói ngang tàng vô lễ mà vương mang nghiệp tội:“Khi nói làm ít chịu suy lường, Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác”.(Kh/thiện, Q.5)

          -Với lòng thẳng ngay trung chánh, ta đã và đang rèn tập nên bảo trọng nó, cho đến khi thành đạt mục đích. Dù phải đường đầu với bao thử thách, khó khăn hay có thiệt hại đến thân mạng, ta cũng quyết định không thay đổi. Bởi lòng quá thương đời nên Đức Thầy không ngần ngại, nói thẳng với số người còn sai trái, dầu ai có rầy la chưởi mắng cũng cam.

 

CHÚ THÍCH

          TRÍ TÀI: Cũng gọi là tài trí. Có nghĩa tài năng và trí thức. Đây chỉ cho người có thế trí biện thông, tức kẻ có học thức, tài ba trong đời, nhưng trí độ còn thường tình, chưa thấu được chơn lý của Đạo xuất thế gian.

          TIÊN XỬ KỶ HẬU LAI XỬ BỈ: Do câu thành ngữ người xưa thường dùng “Tiên xử kỷ nhi hậu xử bỉ”. Có nghĩa trước phải tự xét xử phê phán việc của ta, rồi sau mới xét xử bình phán việc của người. Kinh Phật Giáo cũng có câu:“Chánh kỷ dĩ giáo nhân giả thuận, Thích kỷ dĩ giáo nhân giả nghịch”.(Giữ mình ngay chánh rồi dạy người là điều thuận lý, còn tự bỏ mình, buông lung mà đứng ra dạy người là điều nghịch lý). Đức Thầy cảnh tỉnh những người không biết xử kỷ:

                   Sợ nhiều kẻ dạ buồn đổi chí,

             Quên những câu chánh kỷ hóa nhơn”.(Thiên lý ca)

            CÔNG BÌNH: Công bằng ngay thẳng, không thiên vị một ai. Ca dao có câu:“Theo trong luân lý giáo khoa, Công bằng là đạo người ta ở đời”. Đức Thầy nay cũng bảo:

                   Trên vua minh chánh cầm cân,

           Dưới quan liêm khiết xử phân công bình”.(Hoài cổ)        

          CHÁNH TRỰC: (Xem CT câu 100, T-2, Q.3).

          QUÂN TỬ: (Xem CT câu 471, T-2, Q.2).

          PHẢI GÌN NGÔN NGỮ: Tự mình nói ra là ngôn, đáp lại kẻ khác là ngữ. Giải chung, ngôn ngữ là cách nói năng xử sự bằng lời nói, hoặc viết ra trên văn tự. Câu “Phải gìn ngôn ngữ”, ý dạy người tu phải thận trọng, gìn giữ lời nói cho đúng đắn, không bạ đâu nói đó. Bởi lời nói rất quan trọng, nên Cổ Đức từng bảo:“Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang”.(Một lời nói mà làm cho hưng thịnh nước nhà, cũng một lời nói mà làm cho nước mất nhà tan). Và Kinh thi cũng có câu:“Bạch Khuê chi điếm, thượng khả ma giả; tư ngôn chi điếm, bất khả vi giả”.(ngọc Bạch Khuê có vít, có thể mài được. Lời nói có vít, chẳng biết làm sao ?)

          Kinh Phật cũng dạy:“Lập thân chi yếu, ngôn hạnh thị tiên”.(Cốt yếu của sự lập thân, lời nói là trước hết).

          Thuở xưa, tại cái ao nọ, nhằm năm đại hạn, nước khô hết. Các loài thủy tộc như: tôm, cá, cua…đều chết, chỉ còn con rùa sống sót trong cảnh khô khan !

          Một hôm, có hai chú Cò đến kiếm mồi, rùa đem tình cảnh khốn khổ của mình ra than thở:

          - Nếu trời hạn hán mãi như thế nầy chắc tôi phải chết thiêu hoặc bị người ta bắt mất. Vậy hai anh có phương pháp nào cứu tôi với !

          Ngẫm nghĩ giây lâu, một chú Cò bảo:

          - Cách đây non mười dặm, có ao sen vừa sâu rộng, vừa có nhiều thức ăn. Bây giờ hai đứa tôi tha một cành cây, mỗi đứa cắn một đầu; còn anh thì ngậm khúc giữa, nhớ đừng hả miệng ra sẽ bị rớt chết. Cò dặn đi dặn lại đôi ba lượt, rồi hai chú khởi hành. Rùa lấy làm vui thích, vì chuyến nầy mình sẽ sống cuộc đời thong thả.

          Bay được một đỗi, đến xóm nhà nọ, có đàn trẻ em đang chơi, trông thấy liền la lớn lên:

          - Anh em ơi ! Ra coi nè ! Hai con cò tha một con rùa, ngộ quá ! Đám trẻ chạy ra trông thấy la ầm lên. Có đứa nói đùa:

          - Ê ! coi kìa ! Giống hệt hai thằng mỏng dắt anh thầy mù !

          Rùa nghe nói dằn lòng không được, định bụng sẽ mắng bọn trẻ một chập cho hả giận, nhưng vừa hả miệng ra thì rùa bị rơi xuống đất nát thây”.(Phỏng theo Kinh tạp tỷ dụ.)

          Xưa, Đức Phật thường dạy:“Ở đời biết bao nhiêu người vì không giữ lấy miệng, nói không phải lúc nên thường mang họa. Nầy các đệ tử ! Họa từ miệng phát ra, vậy các ngươi hãy gìn giữ lấy miệng”.

          Ngài Lão Tử cũng bảo: Bên trong ngăn chừng lời nói, bên ngoài đóng chặt cửa miệng, thì suốt đời không lầm lỗi.(Tắc kỳ đoài, bế kỳ môn; chung thân bất cần).

          Ngày nay Đức Thầy hằng khuyên dạy tín đồ, trước khi muốn nói điều chi cần phải cẩn trọng, lựa lời:

                   Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch,

                  Khi thốt ra đoan chánh hiền từ”.(Kh/thiện, Q.5)

            KÍNH NỂ: Kính trọng nể vì. Đây ý dạy người tu khi nói năng phải biết kính trọng nể vì Trời Phật và Tổ Tiên Cha mẹ.

          NGAY THẲNG: Ngay ngắn, thẳng thớm, thành thật, chánh đáng. Ví dụ: Tánh tình ngay thẳng, ăn ở ngay thẳng:“Ngay thẳng hiếu trung trang hiếu thảo”.(Thiên lý ca)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn

Nhập những từ trong hình vào ô bên dướiNhập những số nghe được vào ô bên dưới