THAY
LỜI TỰA
Trong sách Thiền uyển kế đăng lục có chép lịch-sử các
vị tổ Việt-Nam cho đến triều vua Tự-Đức, chỉ thấy gọi danh-hiệu là thiền-sư hay
hòa-thượng chớ chưa thấy xưng tụng một vị nào là Phật cả.
Thế
mà trong vòng một trăm năm mươi năm trở lại đây, ở miền Nam nước Việt có một vị
siêu-phàm ra đời, hoằng pháp lợi sanh, gây nên một phong-trào đạo-hạnh chưa
từng thấy. Vị siêu phàm ấy được thế nhân xưng tụng là Đức Phật-Thầy.
Phải
chăng sách Thiền uyển kế đăng lục chỉ kể những vị cao tăng từ triều
Tự-Đức trở về trước và từ vùng Bình-Thuận trở lên, cho nên chưa đề-cập đến các
bực tu-hành từ triều Tự-Đức trở về sau và từ Bình-Thuận trở xuống miền Nam đó
chăng?
Nếu
thế, thì đây là một tài-liệu về Đức Phật-Thầy Tây-An mà chúng tôi xin cung-hiến
để góp một phần nào vào lịch-sử Phật-giáo Việt-Nam.
Sở-dĩ
vị siêu-phàm ấy được xưng tụng là Phật-Thầy, là bởi Ngài đã đạt được quả vị
đẳng-giác, thấu rõ cơ-huyền, vưng lịnh Phật-Tổ xuống độ dân cứu thế, mà ngay
trong sám giảng của Ngài, người ta được thấy lắm lời phát-lộ.
Như
trong sám giảng của Đức Phật-Trùm, một chuyển kiếp của Ngài có nói:
Tuy là phần xác của Mên,
Hồn
Trùm của Phật xuống lên dạy đời.
Hay
trong Sám-giảng của ông Sư-Vải Bán-Khoai, cũng một chuyển- kiếp của Ngài, có
nói:
Ta nay phần cốt ở trần,
Phần
hồn Phật khiến xa gần phải đi.
Hay
trong Sám-giảng của Đức-Huỳnh Giáo-chủ, cũng một chuyển- kiếp của Ngài có nói:
Ta
thừa vưng sắc lịnh Thế-Tôn,
Khắp
hạ-giái truyền khi đạo pháp.
Với
sự hoằng-hóa của Ngài, trên thì nói Phật-pháp cho kẻ có lòng mộ đạo qui căn,
dưới dùng phép huệ-linh độ bịnh để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh, mà
Ngài đã gây nên một tôn phái: phái Phật-Thầy Tây-An cũng gọi là phái
Bửu-Sơn Kỳ-Hương,
có mười hai vị đại đệ-tử liểu ngộ và có phép thần-thông với hàng vạn tín đồ
qui-ngưỡng, kể ra không kém hai phái Lâm-Tế và Tào-Động như hiện nay còn thấy
lưu-truyền ở Trung Bắc.
Đã
gây nên một phong-trào đạo-hạnh dường ấy, đã nên danh một tôn phái như thế,
nhưng nếu có ai hỏi phong-trào đạo-hạnh ấy thế nào và phái Phật-Thầy Tây-An ra
làm sao thì cơ-hồ không biết phải dựa vào đâu để kê-cứu cho đúng.
Có
người giới-thiệu cho bộ Giảng Tòng-Sơn như đã thấy cốt truyện đăng trên
mặt báo một độ nọ, nhưng đến khi khảo-sát lại thì những tài-liệu trong bộ giảng
ấy không đúng sự thật.
Ngoài
bộ Giảng Tòng-Sơn, còn nhiều Sám-giảng mà chúng tôi được dịp đọc đến,
nhưng tựu-trung cũng không khác bộ Giảng Tòng-Sơn kia, đã mất hẳn
tánh-chất thực-tế mà lại còn không phù-hợp nhau giữa tài-liệu của quyển nầy với
quyển khác.
Trang-thái
bất-nhứt ấy sở-dĩ có, cùng do nhiều nguyên-do:
1-
Noi theo giáo-pháp vô-vi của Phật Thích-Ca, Đức Phật-Thầy không chịu làm việc
gì có tánh-cách hữu-vi. Cũng như Phật Thích-Ca, Ngài chỉ thuyết chớ không viết.
Ngay như ngôi mộ của Ngài, trước khi tịch Ngài cũng dạy sau nầy để bằng cho
người trồng tỉa.
2-
Phần nhiều Sám-giảng được lưu-truyền là do môn-đệ của Ngài chép lại sau khi
nghe Ngài thuyết hay lấy ý của Ngài mà viết lại. Do đó mà người đời nay thường
nhận lầm là của môn-đệ viết, như mười bài thơ liên-hoàn đăng ở phần Phụ-lục mà
nhiều người cho là của cậu hai Lãnh tục danh cậu hai Gò-sặc sáng tác, nhưng thật
ra, cậu hai Gò-sặc chỉ thừa lịnh chép lại mà thôi.
3-
Ở miền Nam nước Việt không có cái lệ làm gia-phả. Bởi thế, nếu cần khảo-cứu một
nhơn-vật lịch-sử nào thì con cháu của vị ấy, mỗi người theo ký-ức của mình hay
do theo lời truyền-khẩu của tiền-nhơn mà kể lại mỗi người mỗi cách khác nhau.
Đứng
trước tình-trạng hỗn-độn ấy, muốn khảo-cứu lich-sử về Đức Phật-Thầy Tây-An là
một việc hết sức khó-khăn.
Muốn
cho không xa sự thực, chúng tôi phải làm lại công việc của nhà khảo-cổ hay
địa-chất-học, tự đi đến chỗ tìm lại dấu vết xưa, như bi-ký, mộ-bia, sắc chỉ...
Chúng tôi phải mất nhiều thì giờ đi đến những nơi mà Đức Phật-Thầy và môn đệ
của Ngài còn để di-tích lại, như chùa
Tây-An Cổ-tự ở Long-kiến, chùa
Tây-An ở núi Sam, trại ruộng ở
Thới-sơn, Bửu-Hương-Các ở Láng. Ngoài ra chúng tôi còn phải đi đến chùa Bồng-Lai ở Bài-bài của ông Đạo-Lập chùa
Bửu-Hương-Tự ở Láng của ông cố Quản
Thành và cậu Hai Nhu, chùa Long-Châu-Thới
ở Cái-dầu của ông Đạo Xuyến... để tìm di-tích của các ông Đạo, môn đệ của
Phật-Thầy, cho được tận tai nghe, tận mắt quan-sát.
Nhưng
biết đâu chẳng còn có chỗ sai-siễn.
Xưa
kia, Phật tịch-diệt không bao lâu đã có người đọc sai bài kệ trong kinh Pháp-cú
như vầy:
Nhược
nhơn sanh bách tuế,
Bất
kiến thủy-lão-hạc.
Bất
như sanh nhứt nhựt,
Nhi
đắc kiến liễu chi.
Có nghĩa:
Nếu
người sống trăm tuổi,
Mà
không thấy con thủy-lão-hạc:
Chẳng
bằng sống một ngày,
Mà
được thấy rõ vậy.
Thật
ra thì bài kệ ấy như vầy:
Nhược
nhơn sanh bách tuế,
Bất
kiến sanh diệt pháp:
Bất
như sanh nhứt nhựt,
Nhi
đắc kiến liễu chi.
Có nghĩa:
Nếu
người sống trăm tuổi,
Chẳng
thấy pháp sanh diệt:
Không
bằng sống một ngày,
Mà
được thấy rõ vậy.
Ông
A-Nan khi đi ngang qua nghe tụng sai như vậy thì than rằng: Chánh-pháp của Phật
sao mà dứt sớm quá vậy!
Cách
Phật tịch-diệt chẳng bao lâu mà còn truyền tụng sai như thế, huống hồ là cách
xa Đức Phật-Thầy Tây-An gần một trăm năm mươi năm thì sự sai lạc mới biết bao
nhiêu nữa.
Mong
rằng các thức-giả nhận thấy chỗ sai-siễn mà chỉ-giáo, thì không còn chi quí hóa
bằng.
Thượng-tuần tháng trọng-hạ năm Quí-Tỵ.
(Kiểm bài ngày 22-9-2010)